Chương 1 : Những lý luận cơ bản về tiệt kiệm vật tư ở doanh nghiệp sản xuất. Chương 2 : Thực trạng tiết kiệm vật tư trong hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty TNHH đúc kim loại Minh Thành. Chương 3 : Giải pháp tiết kiệm vật tư tại Công ty TNHH đúc kim loại Minh Thành. 5 ` CHƢƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIẾT KIỆM VẬT TƢ Ở DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1.
Lý luận chung về tiết kiệm vật tƣ trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 1.Quan niệm về vật tư và tiết kiệm vật tư Khái niệm vật tư Bất kỳ một doanh nghiệp sản xuất nào để làm ra được sản phẩm cũng cần đến các tư liệu vật chất khác nhau như nhiên liệu, vật liệu, thiết bị máy móc. Những vật này khi chúng được các đơn vị sử dụng làm tư liệu lao động hoặc đối tượng lao động theo công dụng của chúng thì chúng biểu hiện là vật tư kỹ thuật. Vật tư kỹ thuật là tư liệu sản xuất ở trạng thái khả năng. Mọi vật tư kỹ thuật đều là tư liệu sản xuất nhưng không nhất thiết mọi tư liệu sản xuất cũng đều là vật tư kỹ thuật.
Khái niệm vật tư kỹ thuật dùng để chỉ những vật có chức năng làm tư liệu sản xuất, đang trong quá trình vận động từ sản xuất đến tiêu dùng sản xuất, chưa bước vào tiêu dùng sản xuất trực tiếp. Vật tư kỹ thuật chỉ là một bộ phận quan trọng của tư liệu sản xuất bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động hiểu theo nghĩa hẹp. Vậy, vật tư kỹ thuật là sản phẩm của lao động dùng để sản xuất. Đó là nguyên, nhiên, vật liệu, điện lực, bán thành phẩm, thiết bị, máy móc, dụng cụ, phụ tùng…( PGS.
Đặng Đình Đào, Giáo trình Thương mại doanh nghiệp, NXB Thống kê, 2002)- Khái niệm quản trị vật tư Như vậy,có thể thấy vật tư là đầu vào quan trọng của quá trình sản xuất kinh doanh và chiếm một tỉ trọng lớn trong cơ cấu chi phí sản xuất của doanh nghiệp. Phân loại vật tư Vật tư kỹ thuật gồm rất nhiều loại, tất cả đều là sản phẩm của lao động, được dùng để sản xuất. Toàn bộ vật tư được chia theo hai tiêu thức cơ bản đó là theo công dụng của vật tư và theo tính chất sử dụng của vật tư. - Theo công dụng trong quá trình sản xuất Toàn bộ vật tư được chia làm 2 nhóm lớn là những loại vật tư dùng làm đối tượng lao động và những vật tư dùng làm tư liệu lao động.Những vật tư thuộc nhóm thứ nhất có đặc điểm là trong quá trình sử dụng chúng hoàn toàn dùng trong một lần và giá trị chuyển hết sang giá trị thành phẩm.
Đối với những loại vật tư thuộc nhóm thứ nhất vì tiêu dùng hoàn toàn trong một lần nên muốn lặp lại quá trình sản xuất với qui mô như trước với những điều kiện khác không thay đổi thì đòi hỏi doanh nghiệp phải bảo đảm một số lượng vật tư như trước. Nhóm này gồm có : + Nguyên liệu. + Chi tiết bộ máy. Nhóm 2 : Sử dụng được nhiều lần và giá trị chuyển dần sang giá trị thành phẩm như máy móc, công cụ dụng cụ.
Đối với loại vật tư thuộc nhóm thứ hai thì không nhất thiết phải như vậy, thậm chí ngay cả trong trường hợp tăng quy mô sản xuất. Nhóm thứ hai gồm có : + Thiết bị động lực. + Thiết bị truyền dẫn năng lượng. + Thiết bị sản xuất.
+ Thiết bị vận chuyển và chứa đựng đối tượng lao động. + Hệ thống thiết bị máy móc điều khiển. + Công cụ, khí cụ, dụng cụ dùng vào sản xuất. + Các loại đồ dùng trong nhà xưởng.
+ Các loại phụ tùng máy -Theo tính chất sử dụng vật tư Toàn bộ vật tư kỹ thuật được chia thành vật tư thông dụng và vật tư chuyên dùng. Vật tư thông dụng là những vật tư dùng phổ biến cho nhiều ngành. Vật tư 7 ` chuyên dùng là những vật tư dùng cho một ngành nào đó, thậm chí cho một doanh nghiệp nào đó. - Theo tỉ lể vật tư cấu thành sản phẩm.
Vật tư chính : Là vật tư cấu thành nên thực thể chủ yếu của sản phẩm. Vật tư phụ : Là vật tư bổ trợ vào thực thể chủ yếu của sản phẩm. - Theo tầm quan trọng của vật tư. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, có một số loại vật tư nếu bị thiếu sẽ làm tê liệt hoạt động của doanh nghiệp.
Do vậy, trong quá trình tổ chức mua sắm và quản lý vật tư, các doanh nghiệp cần chú ý nhiều vào những vật tư “quan trọng”. Chúng cần phải được phân loại để có những phương pháp quản lý có hiệu quả. Có hai phuơng pháp phân loại được sử dụng dựa theo quy luật Pareto. + Phương pháp 20/80: Phần lớn các trường hợp doanh nghiệp thường tiêu dùng khoảng 80% giá trị vật tư nhưng chỉ với khoảng 20% danh mục vật tư.
Như vậy, thông thường là 20% danh mục chiếm khoảng 80% giá trị, trong khi 80% danh mục chỉ chiếm 20% giá trị vật tư tiêu dùng. Trong quản lý dự trữ, người ta kiểm tra và nhận thấy rằng 20% các mặt hàng tạo ra 80% giá trị đầu tư cho dự trữ, hoặc là 80% tiêu dùng về giá trị hoặc là 80% giá trị mua. + Phương pháp A.C Về nguyên tắc: Phân loại A.C là một biến thể của cách phân loại 20/80. Nhìn chung, người ta ghi nhận rằng: - Từ 10% đến 20% vật tư (tạo thành nhóm A) chiếm 70% đến 80% giá trị dự trữ (hoặc số bán ra theo giá trị).
- Từ 20% đến 30% vật tư (nhóm B) chiếm 10% đến 20% giá trị. - Từ 50% đến 60% các vật tư (nhóm C) chiếm 5% đến 10% giá trị. Đây là những số liệu trung bình và thay đổi ở các doanh nghiệp khác nhau. Về cách sử dụng phương pháp A.C: Phương pháp A.C cho phép đưa ra những quyết định quan trọng trong quản lý vật tư ở doanh nghiệp: 8 ` Quyết định liên quan đến dự trữ: - Những sản phẩm nhóm A sẽ là đối tượng lập kế hoạch và quản lý chặt chẽ, cụ thể về các nhu cầu.
Sản phẩm nhóm B có thể quản lý bằng kiểm kê liên tục, còn các sản phẩm nhóm C là đối tượng kiểm kê định kỳ. - Mọi sự can thiệp nhằm hạn chế dự trữ trước tiên là nhằm vào những mặt hàng của nhóm A. Quyết định liên quan đến mua sắm: Phân tích A.C về doanh số mua theo chủng loại hàng hóa. - Vật tư loại A là đối tượng tìm kiếm và để đánh giá rất kỹ càng những người cung ứng.
- Những vật tư thuộc phạm vi A phải được phân tích về mặt giá trị. - Vật tư loại A phải giao cho người mua giỏi nhất còn loại C giao cho những người mới vào nghề. - Trong một số trường hợp các vật tư loại A là đối tượng mua tập trung, còn đối với các loại vật tư khác sẽ được mua theo hình thức phi tập trung. - Các quyết định liên quan tới các chữ ký của các đơn đặt hàng có thể xuất phát từ phân tích A.
Quyết định liên quan đến người cung ứng: Phân tích A.C về doanh số cung ứng: - Những người cung ứng loại A là đối tượng theo dõi đặc biệt: Phân tích tình hình tài chính, sự thuyên chuyển các chức vụ chủ chốt, đổi mới kỹ thuật.C về khách hàng và người cung ứng cung cấp những chỉ định có ích về các mối quan hệ tương tác. Mức tiêu dùng nguyên vật liệu và công tác định mức Mức tiêu dùng nguyên vật liệu là lượng nguyên vật liệu tối đa cho phép để chế tạo ra một đơn vị sản phẩm ( hoặc một chi tiết sản phẩm, hoặc hoàn thành một khối lượng công việc ) với chất lượng quy định có tính tiến bộ khoa hoạc công nghệ và trình độ quản trị sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thời kỳ nhất định. 9 ` Mức tiêu dùng nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm trở thành thước đo hao phí về nguyên vật liệu cho sản xuất ra một đơn vị sản phẩm của thời kỳ kế hoạch. Việc phấn đấu thực hiện thấp hơn lượng chi phí về nguyên vật liệu đã quy định được gọi là thực hành tiết kiệm vật chất ở doanh nghiệp.
Với cùng một khối lượng nguyên vật liệu để sản xuất ra sản phẩm, nếu định mức thực tế cho một sản phẩm được thực hiện thấp hơn định mức thì doanh nghiệp có thể sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn.Vì vậy, việc phấn đấu giảm mức được coi như thực hiện mục tiêu tiết kiệm nguyên vật liệu cho sản xuất. Công tác định mức tiêu dùng nguyên vật liệu là quá trình hoạt động có tổ thức có kế hoạch dựa trên các điều kiện kinh tế, kỹ thuật, công nghệ của quá trình sản xuất để xây dựng ra các mức tiêu dùng nguyên vật liệu và áp dụng các mức ấy vào trong sản xuất của các đơn vị thời kỳ kế hoạch Vai trò của vật tư trong hoạt động sản xuất kinh doanh Như đã trình bày,vật tư là đầu vào quan trọng trong quá trình sản xuất sản phẩm, có vật tư thì mới tạo ra được sản phẩm. Để hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp được diễn ra liên tục, không gián đoạn thì cần phải phải đảm bảo lượng vật tư cung ứng cho sản xuất được đầy đủ về số lượng, đảm bảo đúng quy cách, chất lượng vật tư. Như vây, đảm bảo vật tư cho sản xuất là một nhu cầu khách quan của xã hội.
Trong quá trình sản xuất, con người sử dụng các tư liệu lao động tác động vào đối tượng lao động để làm thay đổi hình dáng kích thước, tính chất của đối tượng lao động. Quá trình đó đòi hỏi doanh nghiệp phải có đầy đủ các yếu tố sản xuất, đặc biệt là vật tư kỹ thuật. Vật tư kỹ thuật đóng nhiều vai trò trong quá trình sản xuất sản phẩm. Khi vật tư kỹ thuật là máy móc thiết bị, được con người tác động vào để tạo ra sản phẩm.
Khi đó nó có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm từ đó giúp tiết kiệm được các yếu tố trong sản xuất. Doanh nghiệp muốn tồn tại và cạnh tranh được với các đối thủ trong thị trường thì cần phải tạo ra được 10 ` những sản phẩm chất lượng tốt với giá bán cạnh tranh, chất lượng sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào vật tư kỹ thuật với tư cách là tư liệu lao động.