Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VÀO SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khoa học, công nghệ và nghiên cứu khoa học 1. Khoa học Khoa học là một khái niệm có nội hàm phức tạp, tùy theo mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận mà có nhiều cách hiểu khác nhau.
Trong một số tài liệu tác giả luận văn nghiên cứu về phương pháp luận khoa học, khái niệm khoa học được định nghĩa theo một số cách tiếp cận sau: Khoa học được hiểu là hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội, và tư duy [5]. Định nghĩa này được UNESCO sử dụng trong các văn kiện chính thức và cũng được thừa nhận chung trong giới nghiên cứu trên thế giới. Ngày nay, khi KH&CN đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, năng suất lao động không ngừng được nâng cao, cơ cấu kinh tế của các quốc gia có sự chuyển biến mạnh mẽ, mọi mặt của đời sống xã hội loài người thay đổi sâu sắc. Tuy nhiên, khi bàn về thuật ngữ KH&CN, vẫn còn có nhiều quan niệm khác nhau: Theo Luật KH&CN năm 2013 “Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy.
Công nghệ Do quy luật tự nhiên của sự phát triển khoa học và sự gắn bó mật thiết giữa khoa học và sản xuất xã hội. Khoa học phát triển kéo theo sự phát triển nhanh chóng về kỹ thuật và công nghệ sản xuất. Khoa học làm cho sức sản xuất tăng lên nhiều lần và đạt được những thành tựu rực rỡ chưa từng có trong lịch sử loài người. Trong những ngày đầu công nghiệp hóa, thuật ngữ kỹ thuật (Technique) có ý nghĩa là các giải pháp thực hiện một loại công việc hay công cụ được sử dụng trong sản xuất làm tăng hiệu quả sản xuất.
Công nghệ là tập hợp những hiểu biết để tạo ra các giải pháp kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất và đời sống. Hệ thống công nghệ sản xuất bao gồm: - Hệ thống máy móc, thiết bị đồng bộ của các dây chuyền sản xuất (phần kỹ thuật). - Thông tin về quy trình sản xuất hay các bí quyết kỹ thuật cho một hệ sản xuất (phần thông tin) - Trình độ tay nghề kỹ năng của người lao động trực tiếp xản xuất (phần con người). - Trình độ tổ chức quản lý, điều hành sản xuất (phần tổ chức).
Công nghệ (Technology) bao gồm hai phần: phần kỹ thuật và phần thông tin. Phần kỹ thuật công nghệ gọi là phần cứng (đó là trang thiết bị) và phần thông tin gọi là phần mềm (gồm thành phần con người, thành phần thông tin, thành phần tổ chức); Như vậy, công nghệ là hệ thông thiết bị kỹ thuật và thông tin về quy trình sản xuất được áp dụng trong quá trình chế biến tài nguyên thành sản 10 phẩm hàng hóa dịch vụ. Về bản chất, công nghệ là kết quả của quá trình áp dụng các thành tựu của khoa học và sản xuất. Công nghệ là sản phẩm của lao động trí tuệ sáng tạo trong lĩnh vực sản xuất.
Công nghệ là tổ hợp nhiều công đoạn của quá trình ứng dụng kiến thức khoa học và sản xuất, phương tiện để chế biến tài nguyên vật chất thành sản phẩm hàng hóa. Khi kiến thức kỹ thuật của con người tăng lên dẫn đến công nghệ thay đổi phù hợp với thực tiễn, “Công nghệ là việc áp dụng khoa học vào các ngành, lĩnh vực, bằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu và xử lý một cách có hệ thống và có phương pháp” theo Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hiệp Quốc (UNIDO) [36]. Uỷ ban kinh tế - xã hội Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) đưa ra định nghĩa: “Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin” [10]. Điều 2, Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017 xác định công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm [21].
Công nghệ luôn gắn chặt với công nghiệp, có thể nói công nghệ và công nghiệp là hai mặt của một thực thể thống nhất. Công nghệ là nền tảng của công nghiệp, còn công nghiệp là phương thức truyền tải công nghệ vào cuộc sống. Thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã gắn chặt công nghiệp hóa nền sản xuất, vì nòng cốt của hiện đại hóa là công nghiệp hóa. Mà suy cho cùng công nghiệp hóa phải dựa vào công nghệ tiên tiến ở trình độ cao.
Công nghiệp hóa hiện đại đêm lại năng xuất và hiệu quả rất lớn. Nghiên cứu khoa học Nghiên cứu khoa học là hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức thế giới và cải tạo thế giới của con người. Có thể hiểu nghiên cứu khoa học 11 gồm các hoạt động khám phá, tìm kiếm, phát hiện ra bản chất, đặc điểm, diễn biến, quy luật tác động của các đối tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy; và sáng tạo ra các phương pháp mới, phương tiện kỹ thuật mới…để làm biến đổi sự vật, hiện tượng phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người. - Bản chất của nghiên cứu khoa học là hoạt động sáng tạo của các nhà khoa học nhằm nhận thức thế giới.
- Chủ thể của nghiên cứu khoa học vừa là cá nhân vừa là tổ chức vì bao giờ cũng bắt đầu từ một ý tưởng của cá nhân, sau đó các đơn vị hỗ trợ, hợp tác nghiên cứu (thực hiện trong một cơ quan nghiên cứu). - Mục đích nghiên cứu khoa học: tìm tòi, khám phá bản chất và quy luật vận động, tạo ra thông tin mới nhằm ứng dụng chúng vào sản xuất và đời sống. - Phương pháp nghiên cứu khoa học là phương pháp nhận thức thế giới bao gồm những quan điểm tiếp cận, những quy trình, các thao tác cụ thể để tác động và đối tượng làm bộc lộ bản chất của đối tượng. - Sản phẩm của nghiên cứu khoa học là hệ thống thông tin mới về thế giới và những giải pháp cải tạo thế giới.
Sản phẩm được kế thừa, hoàn thiện, bổ sung theo thời gian và sự tiến bộ của xã hội loài người. Một lý thuyết khoa học được hình thành, phát triển hưng thịnh, rồi lại lạc hậu nhường chỗ cho cái mới, cái tiến bộ và cái có triển vọng hơn. - Giá trị của khoa học quyết định bởi thông tin, tính ứng dụng và sự đáp ứng của nhu cầu cuộc sống. - Tính chất cơ bản của hoạt động nghiên cứu khoa học gồm: tính khoa học, tính sáng tạo và tính mới; Tính hữu ích, tính đa lợi ích, tính trễ và tính rủi ro, tính hiện thực và tính phổ cập.
12 - Để phân loại nghiên cứu khoa học có nhiều các tiếp cận khác nhau như: + Tiếp cận theo trình độ nhận thức có thể là trình độ mô tả (chỉ dừng lại ở mô tả sự vật, hình thái và cấu trúc của sự vật; quy luật vận động của sự vật thể hiện mức độ nguyên bản tối đa), trình độ giải thích ( trình bày tường minh bản chất của đối tượng nghiên cứu, chỉ ra đối tượng ấy tuân thủ một phần hay toàn bộ các quy luật chung của sự phát triển), trình độ phát hiện là trình độ nhận thức sáng tạo cao nhất của con người với công cụ phương tiện tinh xảo, quy trình kỹ thuật khắt khe làm đối tượng bộc lộ nguyên hình) + Tiếp cận theo giai đoạn sản phẩm nghiên cứu: gồm nghiên cứu cơ bản (đi sâu vào khám phá bản chất và quy luật vận động và phát triển của thế giới ở cả hai phía vĩ mô và vi mô. Tri thức cơ bản là tri thức nền tảng cho mọi quá trình nghiên cứu và ứng dụng tiếp theo); Nghiên cứu ứng dụng ( tìm cách vận dụng của tri thức cơ bản tạo ra quy trình công nghệ mới, nguyên lý mới trong quản lý kinh tế và xã hội làm cho khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tạo ra động lực thúc đẩy sự phát triển cả khoa học lẫn sản xuất); Nghiên cứu triển khai (là sự vận dụng lý thuyết để đưa ra các hình mẫu với tham số khả thi về kỹ thuật nhằm nhân rộng, sản xuất đại trà, tạo ra các mô hình chế biến thông tin khoa học thành ra sản phẩm tinh thần hay vật chất). Hoạt động triển khai gồm 03 giai đoạn: tạo mẫu vật (tạo ra sản phẩm chưa quan tâm đến quy trình sản xuất), tạo công nghệ (còn gọi là giai đoạn “làm pilot” là giai đoạn tìm kiếm và thử nghiệm công nghệ để sản xuất ra sản phẩm), sản xuất thử loạt nhỏ (còn gọi là sản xuất “serie 0” loạt 0, là giai đoạn kiểm chứng độ tin cậy của công nghệ trên quy mô nhỏ); Nghiên cứu dự báo là loại hình nghiên cứu có mục tiêu phát hiện những triển vọng, khả năng, xu hướng mới của sự phát triển khoa học và thực tiễn. 13 Rõ ràng so với nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng thì triển khai thực nghiệm có tính định hướng sản phẩm phục vụ xã hội, tới công nghệ và sản xuất một cách rõ rệt.
Phát triển công nghệ trong sản xuất Phát triển công nghệ trong sản xuất là sự mở mang công nghệ cả về chiều rộng lẫn chiều sâu: + Mở mang công nghệ theo chiều sâu là sự nâng cấp công nghệ từ trình độ thấp lên một trình độ cao hơn. Đây là quá trình nghiên cứu nâng cấp công nghệ cũ lên một công nghệ mới với trình độ, năng lực và ra được sản phẩm mới có chất lượng cao hơn trước. Nội dung này thuộc phạm trù của đổi mới công nghệ, ứng dụng kết quả nghiên cứu KH&CN bởi vì dựa trên kết quả nghiên cứu và triển khai các công nghệ của bản thân doanh nghiệp hoặc ký hợp đồng chuyển giao công nghệ để nhân được công nghệ có trình độ cao hơn từ các doanh nghiệp khác (chuyển giao ngang) hoặc nhận công nghệ mới từ kết quả pilot của các tổ chức KH&CN (chuyển giao dọc) hoặc ký hợp đồng chuyển giao công nghệ từ nước ngoài ( bao gồm cả chuyển giao dọc và ngang) + Mở mang công nghệ theo chiều rộng chính là sự nhân rộng từ một dây chuyền công nghệ của doanh nghiệp thành hai ba hoặc nhiều dây chuyền công nghệ có cùng chức năng và cùng dây chuyền công nghệ như ban đầu. Thực chất đây là quá trình nhân rộng công nghệ về mặt số lượng không có biến đổi về mặt trình độ, năng lực công nghệ và chất lượng sản phẩm.