phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phần nội dung chính của luận văn kết cấu thành 3 chương 8 tiết. 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 1. Một số vấn đề lý luận về ứng dụng công nghệ thông tin 1. Khái niệm công nghệ thông tin Công nghệ thông tin (CNTT) (Information Technology) được hình thành từ Khoa học Máy tính (Computer Science).
Đây là một khái niệm khá rộng, nó bao hàm bên trong nhiều khái niệm khác nhau. Để hiểu rõ hơn về CNTT, ta tìm hiểu một số khái niệm CNTT phổ biến hiện nay: - CNTT bao gồm các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật và các giải pháp công nghệ… nhằm giúp con người nhận thức đúng đắn về thông tin và các hệ thống thông tin (HTTT), tổ chức và khai thác các HTTT trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người. Theo một nghĩa trực tiếp hơn, CNTT là ngành công nghệ về xử lí thông tin bằng các phương tiện điện tử, trong đó nội dung “xử lý” thông tin bao gồm các khâu cơ bản như thu thập, lưu trữ, chế biến và nhận thông tin [1]. - Theo GS, Phan Đình Diệu, CNTT là ngành công nghệ về xử lý thông tin bằng các phương tiện điện tử, trong đó nội dung xử lý thông tin bao gồm các khâu cơ bản như thu thập, lưu trữ, chế biến và truyền nhận thông tin [4, tr.
- Theo Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính trị, CNTT là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và các quá trình xử 1ý thông tin. Theo quan niệm này thì CNTT là hệ thống các phương pháp khoa học, công nghệ, phương tiện, công cụ, bao gồm chủ yếu là các máy tính, mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động KT-XH, văn hoá. của con người [3]. - Theo Luật CNTT (2007), CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu 11 trữ và trao đổi thông tin số [5, tr.
Nhìn chung, các quan điểm còn lại cũng đều đồng ý rằng CNTT là ngành nghiên cứu, sản xuất phần mềm và phần cứng máy tính, đồng thời cũng là ngành khoa học và công nghệ về thông tin và xử lý thông tin, sử dụng công cụ, phương tiện chủ yếu là máy tính điện tử. Có thể nói khái niệm về CNTT của Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính trị đưa ra là hoàn chỉnh nhất và phù hợp với mục đích nghiên cứu của luận văn. Vì vậy, thuật ngữ CNTT trong luận văn sẽ được hiểu theo quan điểm này. Điểm cần lưu ý là CNTT bao gồm cả Ngành công nghệ, công nghiệp CNTT và việc ứng dụng CNTT (thường gắn liền với một hệ thống tổ chức hay hệ thống thông tin nào đó) [8].
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn sẽ tập trung vào nội dung của ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan QLHCNN cấp tỉnh. Khái niệm ứng dụng công nghệ thông tin Ứng dụng CNTT là việc sử dụng công nghệ thông tin hiện đại vào các hoạt động của cơ quan nhà nước và các hoạt động xã hội khác nhằm tăng cường các phương tiện để phát triển, quảng bá và nhân nhanh vốn tri thức - động lực của sự phát triển, thúc đẩy phát triển dân chủ trong xã hội, phát triển năng lực con người; nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động của cơ quan nhà nước và giữa các cơ quan nhà nước, trong giao dịch của cơ quan nhà nước với tổ chức và cá nhân, giữa cá nhân với các nhân; hỗ trợ đẩy mạnh cải cách hành chính và bảo đảm công khai, minh bạch và tạo thuận lợi cho việc chia sẻ thông tin giữa các chủ thể trong xã hội. Vai trò của công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý tại Bộ Khoa học và Công nghệ 1.Vai trò của công nghệ thông tin Vai trò của CNTT đối với phát triển xã hội loài người vô cùng quan trọng, nó không chỉ thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng kinh tế dựa vào tri thức, phát triển bền vững, mà quan trọng hơn là thúc đẩy phát triển con người, phát triển văn hoá, phát triển xã hội. Từ những năm 80 của thế kỉ XX, các nước phát triển đã bắt đầu bước vào một nền văn minh mới được 12 gọi là Văn minh tri thức (hay Văn minh thông tin), lấy tri thức làm nguồn lực phát triển, khoa học kỹ thuật là lực lượng sản xuất trực tiếp.
Trong đó, CNTT được xác định là nhân tố quan trọng nhất cho sự phát triển và tạo dựng nền Văn minh tri thức. CNTT đóng vai trò là công nghệ chìa khoá trong hệ thống các công nghệ khác, vừa là tác nhân gắn kết các công nghệ lại với nhau, vừa là động lực phát triển chúng. Đối với các nước đang phát triển, nền Văn minh tri thức tạo ra những cơ hội mới nhưng đồng thời cũng có những thách thức không nhỏ. CNTT đóng một vai trò rất quan trọng trong việc phát triển KT-XH, an ninh, quốc phòng và đặc biệt là hoạt động QLNN; là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kích thích năng lực đổi mới đối với nền kinh tế toàn cầu nói chung và nền kinh tế quốc dân của mỗi nước nói riêng.
Nhiều nước đã đề ra chiến lược đi tắt vào nền Văn minh tri thức, lấy ứng dụng và phát triển CNTT làm giải pháp hàng đầu để rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển, tăng tính cạnh tranh của quốc gia trước sự hội nhập kinh tế. Sự phát triển của CNTT đã tạo ra hàng loạt ngành nghề mới có giá trị gia tăng cao, đã đào tạo được hàng triệu nhân công CNTT có tay nghề cao; tạo ra nguồn thu rất lớn cho ngân sách Nhà nước, từ thu thuế (nhiều chục tỷ USD mỗi năm) [3]. Mạng thông tin là môi trường lý tưởng cho sự sáng tạo, là phương tiện quan trọng để quảng bá và nhân nhanh vốn tri thức – động lực của sự phát triển, thúc đẩy phát triển dân chủ trong xã hội, phát triển năng lực con người. Vai trò của ứng dụng công nghệ thông tin Nhận thức được rất rõ vai trò của CNTT đối với phát triển bền vững, hầu hết các quốc gia đều xây dựng cho mình chiến lược quốc gia về ứng dụng CNTT.
CNTT có thể được coi là một ngành kinh tế - kỹ thuật. Theo đó các ngành kinh tế được tập trung phát triển thường gắn CNTT như công nghiệp phần cứng, phần mềm, công nghệ nội dung, dịch vụ, viễn thông, điện tử,. xây dựng tiềm năng quốc gia, thị trường nội địa hoặc tập trung xuất khẩu thị trường quốc tế. Tuy nhiên, CNTT không chỉ là một ngành kinh tế kỹ thuật mà còn là động lực phát triển, cải thiện vị thế toàn cầu, tiếp cận các mục tiêu phát triển [6] Để thấy rõ hơn vai trò của ứng dụng CNTT đối với sự phát triển của mỗi 13 quốc gia, ta tìm hiểu sâu hơn vai trò của CNTT đối với một số lĩnh vực quan trọng dưới đây: Thứ nhất, CNTT đối với hoạt động của cơ quan QLHCNN.
Trên phương diện của Chính phủ, CNTT cùng với sự phát triển của hệ thống interrnet sẽ giúp cho Chính phủ xóa bỏ rào cản về mặt vật lý giữa các hệ thống thông tin dựa trên giấy tờ truyền thống, giải phóng các luồng di chuyển thông tin trong hệ thống, rút ngắn các qui trình thủ tục, cung cấp các dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp, lắng nghe người dân và cộng đồng cũng như trong việc tổ chức và cung cấp thông tin; Công nghệ thông tin với bốn thành phần: ứng dụng CNTT, cơ sở hạ tầng CNTT, nguồn nhân lực và công nghiệp CNTT sẽ giúp cho Chính phủ cải tiến mối tác động qua lại giữa ba chủ thể: Chính phủ, người dân và doanh nghiệp nhằm thúc đẩy tiến trình chính trị, KT-XH, tiến đến xây dựng CPĐT. Đối với các cơ quan QLHCNN, nhờ vào khả năng số hóa, xử lý và tái tạo thông tin một cách tự động, CNTT giúp cho việc tự động hóa hoặc vi tính hóa các qui trình, thủ tục giấy tờ hiện hành. Từ đó, sẽ đơn giản hóa các thủ tục hành chính, tạo ra phong cách lãnh đạo mới, các cách thức mới trong việc xây dựng và quyết định chiến lược, cải tiến các hình thức cung cấp dịch vụ công. Kết quả làm tăng tính hiệu quả của quá trình phê duyệt và cung cấp dịch vụ công một cách hiệu quả và kịp thời cho người dân, doanh nghiệp và cả trong hệ thống các cơ quan QLHCNN.
Mặt khác, tính minh bạch của thông tin trong môi trường số sẽ giúp cho việc nâng cao tính minh bạch và tin cậy của thông tin trong quản lý điều hành, cũng như mở ra các cơ hội mới cho người dân được chủ động tham gia góp ý vào các vấn đề về điều hành và hoạch định chính sách. Thông qua internet và một số phương tiện truyền thông khác, việc phổ biến rộng rãi thông tin sẽ hỗ trợ việc trao quyền cho người dân cũng như quá trình đưa ra quyết định của cơ quan QLHCNN. Tính minh bạch của thông tin không chỉ thể hiện sự dân chủ mà còn gây dựng nên sự tin cậy giữa những nhà lãnh đạo và tính hiệu quả trong điều hành; Đồng thời cũng góp phần chống quan liêu và tham nhũng trong bộ máy cơ quan QLHCNN. 14 Như vậy, đối với Chính phủ nói chung và cơ quan QLHCNN nói riêng, CNTT chính là công cụ, phương tiện để nâng cao vai trò, hiệu quả và chất lượng quản lý của mình bằng cách cải tiến việc tiếp cận và cung cấp các dịch công nhằm đem lại lợi ích tốt nhất cho người dân; CNTT còn tăng cường năng lực quản lý, điều hành có hiệu quả và nâng cao tính minh bạch trong các cơ quan QLHCNN nhằm quản lý tốt hơn các nguồn lực KT-XH.
Việc ứng dụng CNTT là sử dụng những kết quả của CNTT để hỗ trợ cho các cá nhân, tổ chức hoạt động xứ lý thông tin, hỗ trợ các khâu công việc cần thiết và cuối cùng, ở mức cao nhất là hỗ trợ cho các tổ chức hoạt động và các cá nhân tự động trao đổi, khai thác thông tin trong môi trường CNTT; cải tiến, đổi mới qui cách làm việc, đạt hiệu quả công việc cao hơn, đáp ứng những thay đổi dang diễn ra [9]. Thứ hai, CNTT đối với công tác lãnh đạo quản lí.