Chương 1: Tổng quan về mạng máy tính 1.1 Lịch sử phát triển của mạng máy tính Trong lịch sử phát triển của loài người, thế kỷ XX được đánh dấu bởi cuộc cách mạng về công nghệ thông tin, bao gồm các vấn đề: thu thập, xử lý và phân phối thôngtin. Điều đặc biệt là khi khả năng thu thập, xử lý và phân phối thông tin của con người tăng lên, thì nhu cầu của chính con người về việc xử lý thông tin một cách tinh vi, phức tạp lại tăng nhanh hơn nữa. Máy tính của thập niên 1940 là các thiết bị cơ-điện tử lớn và rất dễ hỏng. Sự phát minh ra transitor bán dẫn vào năm 1947 tạo ra cơ hội để làm ra chiếc máy tính nhỏ và đáng tin cậy hơn.
Năm 1950, các máy tính lớn mainframe chạy bởi các chương trình ghi trên thẻ đục lỗ (punched card) bắt đầu được dùng trong các học viện lớn. Điều này tuy tạo nhiều thuận lợi với máy tính có khả năng được lập trình nhưng cũng có rất nhiều khó khăn trong việc tạo ra các chương trình dựa trên thẻ đục lỗ này. Vào cuối thập niên 1950, người ta phát minh ra mạch tích hợp (IC) chứa nhiều transitor trên một mẫu bán dẫn nhỏ, tạo ra một bước nhảy vọt trong việc chế tạo các máy tính mạnh hơn, nhanh hơn và nhỏ hơn. Đến nay, IC có thể chứa hàng triệu transistor trên một mạch.
Vào cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970, các máy tính nhỏ được gọi là minicomputer bắt đầu xuất hiện. Năm 1977, công ty máy tính Apple Computer giới thiệu máy vi tính cũng được gọi là máy tính cá nhân (personal computer - PC). 11 Năm 1981, IBM đưa ra máy tính cá nhân đầu tiên. Sự thu nhỏ ngày càng tinh vi hơn của các IC đưa đến việc sử dụng rộng rãi máy tính cá nhân tại nhà và trong kinh doanh.
Qua các thập niên 1950, 1970, 1980 và 1990, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đã phát triển các mạng diện rộng WAN có độ tin cậy cao, nhằm phục vụ các mục đích quân sự và khoa học. Công nghệ này khác truyền tin điểm nối điểm. Nó cho phép nhiều máy tính kết nối lại với nhau bằng các đường dẫn khác nhau. Bản thân mạng sẽ xách định dữ liệu di chuyển từ máy tính này đến máy tính khác như thế nào.
Thay vì chỉ có thể thông tin với một máy tính tại một thời điểm, nó có thể thông tin với nhiều máy tính cùng lúc bằng cùng một kết nối. Sau này, WAN của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đã trở thành Internet.2 Những khái niệm cơ bản của mạng máy tính 1. Khái niệm cơ bản mạng máy tính Với sự phát triển của khoa học và kỹ thuật, hiện nay các mạng máy tính đã phát triển một cách nhanh chóng và đa dạng cả về quy mô, hệ điều hành và ứng dụng. Do vậy việc nghiên cứu chúng ngày càng trở nên phức tạp.
Tuy nhiên các mạng máy tính cũng có cùng các điểm chung thông qua đó chúng ta có thể đánh giá và phân loại chúng. Đường truyền vật lý Để truyền dữ liệu giữa các máy tính trong mạng cần thông qua môi trường truyền dẫn, hiện nay có nhiều phương tiện để thực hiện điều này như cap đồng trục, cap xoắn đôi, cap RJ, cap quang hoặc không dây bằng sóng điện từ,… 1. Kiến trúc mạng 12 Kiến trúc mạng bao gồm hai thành phần là hình trạng mạng (topo mạng) và giao thức mạng. Topo mạng Kiến trúc mạng Giao thức mạng Topo mạng là mô hình mô tả phương thức kết nối các thành phần trong mạng với nhau.
Giao thức mạng là tập hợp các quy tắc, quy ước và các biện pháp thực thi mà tất cả các thực thể tham gia truyền thông trên mạng phải tuân theo để bảo đảm để bảo đảm cho mạng hoạt động đồng bộ. Hệ điều hành mạng Hệ điều hành mạng (NOS – Network Operating Systems) là một hệ thống phần mềm được cài đặt trên mạng thực hiện các chức năng: giám sát theo dõi quá trình hoạt động đồng bộ của mạng, quản lý tài nguyên và người dùng trên mạng, cung cấp các dịch vụ cơ bản cho người sử dụng. Địa chỉ mạng Để bảo đảm quá trình truyền thông trên mạng được thông suốt, các giao dịch đúng đối tượng, cần phải xác lập một hệ thống định danh các thực thể tham gia mạng, trong đó mỗi đối tượng tham gia quá trình gửi và nhận thông tin phải được xác định duy nhất tại thời điểm truyền tin. Các hệ thống định danh như vậy gọi là địa chỉ mạng.
Có hai loại địa chỉ mạng. +Địa chỉ vật lý mac 13 +Địa chỉ giao thức mạng ip 1. Các phương pháp phân loại mạng + Có nhiều cách phân loại mạng khác nhau tuỳ thuộc vào yếu tố chính được chọn dùng để làm chỉ tiêu phân loại, thông thường người ta phân loại mạng theo các tiêu chí như sau : + Phân loại theo khoảng cách địa lý + Phân loại theo kỹ thuật chuyển mạch mà nhà mạng áp dụng + Phân loại theo kiến trúc mạng + Phân loại theo hệ điều hành sử dụng 1. Các loại mạng phổ biến hiện nay LAN LAN (Local area network), hay còn gọi là "mạng cục bộ", là mạng máy tính trong một toà nhà, một khu vực (trường học hay cơ quan chẳng hạn) có cỡ chừng vài km.
Chúng nối các máy chủ và các máy trạm trong mạng của mình để chia sẻ tài nguyên và trao đổi thông tin. LAN có 3 đặc điểm: + Giới hạn về tầm cỡ phạm vi hoạt động từ vài mét cho đến vài km. + Vận tốc truyền dữ liệu thông thường là 10 Mbps, 100 Mbps, 1000 Mbps, và lớn hơn. + Các kiến trúc mạng kiểu LAN thông dụng bao gồm: Mạng bus.
Các máy nối nhau một cách liên tục thành một hàng từ máy này sang máy kia. Ví dụ của nó là Ethernet (chuẩn IEEE 802. Các máy nối nhau như trên và máy cuối lại được nối ngược trở lại với máy đầu tiên tạo thành vòng kín. Thí dụ mạng vòng thẻ bài IBM (IBM token ring).
Bao gồm một (hoặc một vài) trung tâm chuyển mạch (hub, swich, .) dùng để truyền dẫn các thông tin trong mạng. WAN WAN (Wide area network), còn gọi là "mạng diện rộng", dùng trong vùng địa lý lớn thường cho một tổ chức hay quốc gia, phạm vi vài trăm cho đến vài ngàn km. Chúng bao gồm tập họp các mạng cục bộ. INTERNET Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ là sự ra đời của liên mạng INTERNET.
Mạng INTERNETlà sở hữu của nhân loại, là sự kết hợp của rất nhiều mạng dữ liệu khác chạy trên nền tảng giao thức TCP/IP. Mạng không dây Các thiết bị cầm tay hay bỏ túi thường có thể liên lạc với nhau bằng phương pháp không dây và theo kiểu LAN. Sự phân biệt trên chỉ có tính chất ước lệ, các phân biệt trên càng trở nên khó xác định với việc phát triển của khoa học và kỹ thuật cũng như các phương tiện truyền dẫn. Tuy nhiên với sự phân biệt trên phương diện địa lý đã đưa tới việc phân biệt trong nhiều đặc tính khác nhau của các loại mạng trên, việc nghiên cứu các phân biệt đó cho ta hiểu rõ hơn về các loại mạng.
Kiến thức cơ bản về mô hình OSI 15 1. Khái niệm Mô hình tham chiếu OSI là một cấu trúc phả hệ có 7 tầng, nó xác định các yêu cầu cho sự giao tiếp giữa hai máy tính. Mô hình này đã được định nghĩa bởi Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế trong tiêu chuẩn số 7498-1. Mục đích của mô hình là cho phép sự tương giao)giữa các hệ máy đa dạng được cung cấp bởi các nhà sản xuất khác nhau.
Mô hình cho phép tất cả các thành phần của mạng hoạt động hòa đồng, bất kể thành phần ấy do ai tạo dựng. Các giáo thức trong mô hình OSI Trong mô hình OSI có hai loại giao thức chính được áp dụng: giao thức có liên kết (connection - oriented) và giao thức không liên kết (connectionless). − Giao thức có liên kết: trước khi truyền dữ liệu hai tầng đồng mức cần thiết lập một liên kết logic và các gói tin được trao đổi thông qua liên kết này, việc có liên kết logic sẽ nâng cao độ an toàn trong truyền dữ liệu. − Giao thức không liên kết: trước khi truyền dữ liệu không thiết lập liên kết logic và mỗi gói tin được truyền độc lập với các gói tin trước hoặc sau nó.
+ Như vậy với giao thức có liên kết, quá trình truyền thông phải gồm 3 giai đoạn phân biệt: − Thiết lập liên kết (logic): hai thực thể đồng mức ở hai hệ thống thương lượng với nhau về tập các tham số sẽ sử dụng trong giai đoạn sau (truyền dữ liệu). − Truyền dữ liệu: dữ liệu được truyền với các cơ chế kiểm soát và quản lý kèm theo (như kiểm soát lỗi, kiểm soát luồng dữ liệu, cắt/hợp dữ liệu.) để tăng cường độ tin cậy và hiệu quả của việc truyền dữ liệu. 16 − Hủy bỏ liên kết (logic): giải phóng tài nguyên hệ thống đã được cấp phát cho liên kết để dùng cho liên kết khác. Các chức năng chủ yếu của mô hình OSI Hình 1.
1: Mô hình 7 tầng OSI Tầng 1 tầng vật lý (Physical Layer) Là tầng mà ở đó ý nghĩa được gán cho các bit được truyền trên mạng. Tầng liên kết dữ liệu phải quy định được các dạng thức, kích thước, địa chỉ máy gửi và nhận của mỗi gói tin được gửi đi. Nó phải xác định được cơ chế truy cập thông tin trên mạng và phương tiện gửi mỗi gói tin sao cho nó được đưa đến cho người nhận đã định. Tầng 2: Tầng liên kết dữ liệu (Data Link Layer) Tầng liên kết dữ liệu cung cấp các phương tiện có tính chức năng và quy trình để truyền dữ liệu giữa các thực thể mạng, phát hiện và có thể sửa chữa các 17 lỗi trong tầng vật lý nếu có.
Cách đánh địa chỉ mang tính vật lý, nghĩa là địa chỉ (địa chỉ MAC) được mã hóa cứng vào trong các thẻ mạng (network card) khi chúng được sản xuất. Tầng 3: Tầng mạng (Network Layer) Tầng mạng cung cấp các chức năng và qui trình cho việc truyền các chuỗi dữ liệu có độ dài đa dạng, từ một nguồn tới một đích, thông qua một hoặc nhiều mạng, trong khi vẫn duy trì chất lượng dịch vụ (quality of service) mà tầng giao vận yêu cầu. Tầng mạng thực hiện chức năng định tuyến, .Các thiết bị định tuyến (router) hoạt động tại tầng này — gửi dữ liệu ra khắp mạng mở rộng, làm cho liên mạng trở nên khả thi (còn có thiết bị chuyển mạch (switch) tầng 3, còn gọi là chuyển mạch IP).