Chương 1: Cơ sở lý luận về đào tạo nguồn nhân lực trong tổ chức. Chương 2: Thực trạng đào tạonguồn nhân lực tại Bộ Khoa học và Công nghệ, Lào. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện đào tạonguồn nhân lực tại Bộ Khoa học và Công nghệ, Lào. Luan van 11 Chƣơng 1 CƠ SỞ UẬN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN N N ỰC TRONG TỔ C ỨC 1.
Một số khái niệm có liên quan 1. Tổ ch c Tổ chức được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Khoa học quản lý nghiên cứu tổ chức với tư cách là hệ thống con người - xã hội với những quá trình, hiện tượng và hoạt động của con người. Để có một quan niệm khoa học vềtổ chức cần phải nhận thức nó ở hai góc độ: Tổ chức với tính cách là một thực thể; Tổ chức với tính cách là một hoạt động.
* Tổ ch c với t c ch à m t th c thể: Khi được hiểu như một thực thể hay như một đơn vị xã hội thì còn có nhiều quan niệm khác nhau về tổ chức. Theo cách hiểu thông thường nhất: Tổ chức là một đơn vị xã hội bao gồm những thành viên cùng gia nhập vào đơn vị xã hội đó để hoàn thành mục tiêu chung và mục tiêu cá nhân [5, tr. Các nhà xã hội học cho rằng: tổ chức là một cấu trúc xã hội đặc biệt của nhóm thứ cấp primay group , được tạo nên bởi những hành động mang tính khuôn mẫu của các thành viên và các nhóm tồn tại trong nó nhằm đạt những mục tiêu nhất định [5, tr. Một số lớn các nhà tư tưởng về tổ chức coi tổ chức như là một tập hợp các mối quan hệ của con người trong mọi hoạt động của nhóm.I Barnard, tổ chức là một hệ thống những hoạt động hay nỗ lực của hai hay nhiều người được kết hợp với nhau một cách có ý thức nhằm hoàn thành mục tiêu chung [7, tr.
Hay nói một cách đơn giản, tổ chức là sự liên kết của nhiều người theo một cách thức nhất định và có cùng mục đích chung. Luan van 12 * Tổ ch c với t c ch à m t ho t ng (h y à ch c năng tổ ch c) Chức năng tổ chức là một trong những chức năng quan trọng của quy trình quản lý. Mục đích của chức năng tổ chức là nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ kịp thời số lượng và chất lượng nhân lực, phối hợp các nỗ lực thông qua việc thiết kế một cơ cấu tổ chức hợp lý và các mối quan hệ quyền lực. Nội dung cơ bản của chức năng tổ chức là thiết kế bộ máy, phân công công việc và giao quyền [7, tr.
Chức năng tổ chức hướng đến việc phân chia những nhiệm vụ chung thành những công việc cụ thể cho từng bộ phận với những quyền hạn tương ứng. Với những hàm nghĩa này, chúng ta có thể hiểu chức năng tổ chức là sự phân chia các nhiệm vụ thành những công việc, trao quyền hạn, xác định những nguyên tắc thích hợp cho các bộ phận và quyết định quy mô thích hợp cho từng bộ phận [6, tr. Với ý nghĩa như trên, chúng ta hiểu tổ chức là quy trình thiết kế bộ máy, sắp xếp, bố trí, sử dụng và phát triển các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu chung [6, tr. Từ định nghĩa này, có thể thấy những hoạt động cơ bản của chức năng tổ chức bao gồm: - Xác định những nhiệm vụ thực hiện để đạt đựơc mục tiêu chung - Nhóm gộp các hoạt động này thành những bộ phận - Phân công người phụ trách các bộ phận và công việc của từng bộ phận đó - Giao phó quyền hạn tương ứng để thực hiện nhiệm vụ - Xác lập cơ chế cho sự phối hợp hoạt động giữa các bộ phận, và trong việc phối hợp quyền hạn và thông tin, theo cả chiều ngang và chiều dọc của cơ cấu tổ chức thiết kế mô hình cơ cấu tổ chức.
Như vậy, bản chất của chức năng tổ chức là thực hiện sự phân công lao động hợp lý cả lao động quản lý và lao động cụ thể để phát huy cao nhất khả năng của nguồn nhân lực nhằm thực hiện hiệu quả mục tiêu chung. Vì thế, tổ Luan van 13 chức là một công việc chuyên môn vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật. Cán b , công ch c Khái niệm “cán bộ thường được sử dụng ở các nước xã hội chủ nghĩa và bao hàm một diện rất rộng về các loại nhân sự thuộc khu vực nhà nước và các tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội. Thuật ngữ khi đó thường dùng là “cán bộ, công nhân bao quát tất cả những người làm công hưởng lương từ nhà nước, kể cả những người đứng đầu một cơ quan tới các nhân viên phục vụ như lái xe, bảo vệ hay lao động tạp vụ không phân biệt ai là cán bộ, công chức [6, tr.
Cùng với xu hướng toàn cầu hóa về kinh tế, những thành tựu của sự phát triển kinh tế - xã hội, sự tăng cường mở rộng giao lưu, hợp tác về nhiều mặt với các nước, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại; cùng với công cuộc cải cách hành chính hiện nay đang đặt ra nhu cầu chuyên biệt hóa trong sự điều chỉnh pháp luật ngày càng rơ nét, đòi hỏi phải có sự thống nhất về nhận thức trong sự phân định các khái niệm có liên quan. Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội, Chủ nghĩa Việt Nam ban hành tháng 11 năm2008 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 đã quy định cụ thể: C n à c ng ân i t m c ầu cử, ph chuẩn, ổ nhi m, giữ ch c v , ch c nh theo nhi m trong cơ qu n c Đảng C ng sản i t m, hà n ớc, c c tổ ch c ch nh tr - xã h i trung ơng, tỉnh, thành ph tr c thu c Trung ơng; huy n, quận, th xã, thành ph tr c thu c tỉnh, trong i n chế và h ng ơng từ ngân s ch nhà n ớc” [14]. Như vậy, đến nay khái niệm cán bộ đã được quy định rõ ràng, cụ thể, xác định rõ nội hàm, đó là những người giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị Việt Nam từ trung ương đến cấp huyện, quận và tương đương. Luan van 14 “Công chức là một bộ phận quan trọng trong bộ máy quản lý nhà nước, là lực lượng lao động chủ yếu thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương.
Hiệu lực của hệ thống chính trị nói chung và của bộ máy hành chính Nhà nước nói riêng, xét cho cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả của đội ngũ cán bộ, công chức [8, tr. Đến nay, trước yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội, sự phát triển của đời sống chính trị pháp lý; Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua ngày 13/11/2008, có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 quy định rõ: “C ng ch c à c ng ân i t m c tuyển ng, ổ nhi m vào ng ch, ch c v , ch c nh trong cơ qu n c Đảng C ng sản i t m, hà n ớc, tổ ch c ch nh tr - xã h i trung ơng, c p tỉnh, c p huy n, trong cơ qu n, ơn v thu c uân i nhân dân mà không phải à sĩ qu n, quân nhân chuy n nghi p, c ng nhân qu c phòng; trong c c cơ qu n, ơn v thu c C ng n nhân ân mà h ng phải à sĩ qu n, h sĩ qu n chuy n nghi p và trong m y ãnh o quản c ơn v s nghi p c ng ập c Đảng C ng sản i t m, hà n ớc, tổ ch c ch nh tr - xã h i (s u ây g i tắt à ơn v s nghi p c ng ập), trong i n chế và h ng ơng từ ngân s ch nhà n ớc; i với c ng ch c trong m y ãnh o, quản c ơn v s nghi p c ng ập th ơng c ảo ảm từ quỹ ơng c ơn v s nghi p c ng ập theo quy nh c ph p uật”[14]. Từ những cách quan niệm về công chức nêu trên, chúng ta có thể hiểu khái niệm công chức như sau: Công chức là những công dân, được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của nhà nước ở trung ương hay địa phương, được xếp vào một ngạch và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; có nghĩa vụ, bổn phận phục vụ nhân dân, phục vụ nhà nước theo quy định của pháp luật và chịu sự điều chỉnh của luật công chức. ot o Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về đào tạo.
Luan van 15 Đào tạo là hoạt động làm cho con người trở thành có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định. Là quá trình học tập để làm cho người lao động có thể thực hiện chức năng, nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác của họ. Bồi dưỡng là loại hình đào tạo thường xuyên nhằm cập nhật kiến thức còn thiếu hay đã lạc hậu, củng cố và mở mang một cách có hệ thống những tri thức, kỹ năng, chuyên môn nghiệp vụ s n có để có thể thực hiện các công việc hiệu quả hơn [9, tr. Trong đạo luật Liên bang của Mỹ đào tạo được xác định như là một quá trình cung cấp, tạo dựng khả năng làm việc cho người học và bố trí, sắp xếp học viên vào các chương trình, khoá học, môn học một cách có hệ thống hay nói một cách khác đào tạo là sự huấn luyện và giáo dục đã được lên kế hoạch và có sự chuẩn bị, có sự kết hợp trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, thương mại, văn phòng, tài chính, hành chính hay một số lĩnh vực khác nhằm nâng cao kết quả thực hiện công việc của cá nhân, tổ chức và giúp họ hoàn thành nhiệm vụ và mục tiêu công tác [26, tr.
Như vậy, hiểu theo nghĩa chung nhất thì đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định.