CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1. KHÁI NIỆM VỀ QUẢN LÝ THƯ VIỆN[1] Trong một số tài liệu chuyên môn về thư viện đã có các định nghĩa về quản lý thư viện (QLTV) như sau: Là sự tác động có chủ đích tới tập thể người lao động để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình thực hiện các mục đích và nhiệm vụ đề ra. QLTV dựa trên quyền hạn được quy định và cùng với nó là sự tác động tổ chức, điều hành.
Là hoạt động được các cán bộ lãnh đạo và tập thể viên chức thực hiện một cách tự giác và có kế hoạch nhằm đảm bảo cho sự hoạt động và phát triển bình thường của thư viện, bao gồm: kế hoạch, tổ chức và kích thích lao động, quản lý các quá trình thư viện, thống kê và kiểm tra công việc, công tác cán bộ (tổ chức cán bộ) Thư viện hiện đại Thư viện hiện đại là một loại thư viện được áp dụng những thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật mà cụ thể là công nghệ thông tin (CNTT). Dưới tác động của ứng dụng CNTT, thư viện hiện đại có rất nhiều thay đổi: từ cơ cấu tổ chức, nguồn nhân lực cho đến cơ sở vật chất trang thiết bị. Tuỳ thuộc vào mức độ ứng dụng CNTT vào hoạt động của thư viện mà người ta xây dựng thư viện hiện đại với các cấp độ khác nhau và tương ứng với chúng là những tên gọi khác nhau như: thư viện đa phương tiện, thư viện lai, thư viện điện tử , thư viện số, thư viện ảo… Nói một cách khác, nhắc đến tên các thư viện này thì ta đều hiểu chúng là các thư viện hiện đại. Ví dụ, thư viện đa phương tiện hay thư viện lai là thư viện hiện đại ở mức độ sơ khai được chuyển tiếp từ thư viện truyền thống sang thư viện có ứng dụng CNTT.
Trong thư viện này vừa tồn tại tài liệu truyền thống vừa có các dạng tài liệu hiện đại. Hay thư viện số là thư viện hiện đại ở cấp độ cao hơn. Trong thư viện này không còn tài liệu dạng truyền thống mà chúng đã được số hoá và được sử dụng bằng máy tính, phương tiện truyền thông. Bởi vậy, khi nói đến QLTV hiện đại là nói đến việc quản lý tất cả các dạng thư viện như đã nêu bao gồm: thư viện đa phương tiện, thư viện lai, thư viện số, thư viện ảo,mượn trả sách tự động… Nói một cách khác, khi nói đến quản lý một trong các dạng thư viện này thì về bản chất đều là QLTV hiện đại.
SVTH: NGUYỄN XUÂN TÍNH – TRẦN MINH THẮNG 3 XÂY DỰNG HỆ THỐNG TRẢ SÁCH TỰ ĐỘNG CHO THƯ VIỆN GVHD:HOÀNG BÁ ĐẠI NGHĨA Vậy QLTV hiện đại là gì? QLTV hiện đại có khác gì so với QLTV truyền thống? Theo tác giả để định nghĩa được QLTV hiện đại cần phân biệt các điểm giống và khác nhau giữa QLTV truyền thống và QLTV hiện đại.1: Quản lý thư viện hiện đại[1] 1. GIỚI THIỆU VỀ CÔNG NGHỆ BARCODE[3] Mã vạch (hay còn gọi là barcode) là một hệ thống mã hóa thông tin dưới dạng các dãy số và đồ họa đặc biệt, thường được in hoặc gắn trên sản phẩm hoặc bao bì. Mã vạch giúp tự động hóa quá trình thu thập dữ liệu và quản lý thông tin về sản phẩm, từ việc theo dõi hàng hóa trong chuỗi cung ứng đến quản lý hàng tồn kho và quy trình thanh toán.2: Barcode[3] SVTH: NGUYỄN XUÂN TÍNH – TRẦN MINH THẮNG 4 XÂY DỰNG HỆ THỐNG TRẢ SÁCH TỰ ĐỘNG CHO THƯ VIỆN GVHD:HOÀNG BÁ ĐẠI NGHĨA Có 2 loại Barcode phổ biến nhất là 1.1 Barcode 1D[4] Mã vạch dạng thanh hay còn gọi là mã vạch 1 chiều( mã vạch tuyến tính), một khái niệm để chỉ loại mã vạch được mã hóa 1 chiều duy nhất, thường xuất hiện dưới dạng các đường thẳng song song và có chiều dài biến thiên. Mã vạch này được sử dụng rộng rãi trong bán lẻ và quản lý hàng hóa Hình 1.3: Barcode 1D Các loại mã vạch 1D hiện nay UPC-A UPC-E EAN 8 EAN 13 Industrial 2 of 5 Interleaved 2 of 5 Codabar Code 11 Code 39 Code 93 Code 128 DataBar MSI Code Patch Code > 1.2 Barcode 2D[4] Mã vạch 2 chiều chứa thông tin hơn so với mã vạch 1D.
Thay vì chỉ là các đường thẳng, nó có thể chứa các ô vuông, hình chữ nhật và các ký tự được biểu diễn không chỉ theo chiều dọc mà còn theo chiều ngang. Các loại Barcode 2D hiện nay SVTH: NGUYỄN XUÂN TÍNH – TRẦN MINH THẮNG 5 XÂY DỰNG HỆ THỐNG TRẢ SÁCH TỰ ĐỘNG CHO THƯ VIỆN GVHD:HOÀNG BÁ ĐẠI NGHĨA QR Code PDF417 DataMatrix GS1 Composite Code MaxiCode Aztec Code Trong đó phổ biến nhất là QR code Hình 1.4: Barcode 2D QR CODE Mã QR hay mã hai chiều là một mã vạch ma trận (hay mã vạch hai chiều, mã phản hồi nhanh) được phát triển bởi công ty Denso Wave (Nhật Bản) vào năm 1994. Chữ "QR" xuất phát từ "Quick Response", trong tiếng Anh có nghĩa là đáp ứng nhanh, vì người tạo ra nó có ý định cho phép mã được giải mã ở tốc độ cao. Các mã QR được sử dụng phổ biến nhất ở Nhật Bản, Trung Quốc, và hiện nay tại Việt Nam mã QR đang dần thông dụng và với độ sử dụng rất cao Mặc dù lúc đầu mã QR được dùng để theo dõi các bộ phận trong sản xuất xe hơi, hiện nay nó được dùng trong quản lý kiểm kê ở nhiều ngành khác nhau.
Gần đây hơn, phần mềm đọc mã QR đã được cài vào điện thoại di động có gắn camera (camera phone). Điều này đưa đến các ứng dụng mới và đa dạng hướng về người tiêu dùng, nhằm làm nhẹ nhàng việc nhập dữ liệu vào điện thoại di động, vốn không hấp dẫn mấy. Mã QR cũng được thêm vào danh thiếp, làm đơn giản đi rất nhiều việc nhập dữ kiện cá nhân của người mới quen vào sổ địa chỉ trên điện thoại di động. Người dùng có chương trình thu tín hiệu (capture program) và máy tính có giao diện RS-232C có thể dùng máy quét ảnh (scanner) để thu dữ liệu.
SVTH: NGUYỄN XUÂN TÍNH – TRẦN MINH THẮNG 6 XÂY DỰNG HỆ THỐNG TRẢ SÁCH TỰ ĐỘNG CHO THƯ VIỆN GVHD:HOÀNG BÁ ĐẠI NGHĨA Tiêu chuẩn Nhật Bản cho các mã QR, JIS X 0510, được công bố vào tháng 1 năm 1999, và Tiêu chuẩn Quốc tế ISO tương ứng, ISO/IEC18004, được chấp thuận vào tháng 6 năm 2000.5: QR code Khả năng lưu trữ dữ liệu mã QR: Số đơn thuần: Tối đa 7089 ký tự Số và chữ cái: Tối đa 4269 ký tự Số nhị phân (8 bit): Tối đa 2953 byte Kanji/kana: Tối đa - Khả năng sửa lỗi: Mức L: 7% số mã có thể được phục hồi Mức M: 15% số mã có thể được phục hồi Mức Q: 25% số mã có thể được phục hồi Mức H: 30% số mã có thể được phục hồi 1. LỊCH SỬ RA ĐỜI CỦA BARCODE[3] Mã vạch đầu tiên được sản xuất và đưa vào sử dụng trên thế giới từ những năm thập kỷ 70 của thế kỷ 20. Mã vạch, một phương tiện quan trọng trong việc định danh và theo dõi sản phẩm, có một lịch sử phát triển đầy ấn tượng, bắt đầu từ những ý tưởng sáng tạo của Bernard Silver và Norman Joseph Woodland vào những năm 1940. Ý tưởng ban đầu này đã mở đầu cho một hành trình đưa mã vạch từ khái niệm trên giấy đến thực tế trong thế giới kinh doanh.
SVTH: NGUYỄN XUÂN TÍNH – TRẦN MINH THẮNG 7 XÂY DỰNG HỆ THỐNG TRẢ SÁCH TỰ ĐỘNG CHO THƯ VIỆN GVHD:HOÀNG BÁ ĐẠI NGHĨA Trong quá trình thử nghiệm và phát triển, Joseph Woodland đã vẽ ý tưởng đầu tiên về mã vạch dạng thanh trên một bãi cát ở Miami Beach vào năm 1949. Đây là bước đầu tiên quan trọng, mở ra khả năng sử dụng các đường thẳng và không gian trắng để mã hóa thông tin sản phẩm. Từ đây, công nghệ mã vạch đã tiếp tục phát triển và được thử nghiệm bởi nhiều nhóm nghiên cứu và doanh nghiệp. Một bước ngoặt đáng chú ý xảy ra vào thập kỷ 1970 khi hệ thống mã vạch dạng thanh UPC (Universal Product Code) được chọn làm tiêu chuẩn.
UPC đã trở thành hệ thống mã vạch phổ biến nhất và rộng rãi sử dụng trong ngành bán lẻ. Các đường thẳng và khoảng trắng trên mã vạch này đại diện cho các con số cụ thể, giúp máy quét mã vạch dễ dàng đọc và giải mã thông tin sản phẩm. Từ những bước đầu tiên của Bernard Silver và Norman Joseph Woodland đến sự hiện đại hóa và tích hợp với các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo và blockchain, mã vạch đã trở thành một công cụ quan trọng, giúp tối ưu hóa quy trình kinh doanh và quản lý chuỗi cung ứng trên toàn thế giới.6: Norman Joseph Woodland và Bernard Silver[3] 1.1 Đặt vấn đề[3] Trong ngữ cảnh quản lý thư viện, việc sử dụng mã vạch mang lại nhiều lợi ích về theo dõi và tổ chức tài liệu. Tuy nhiên, cũng có một số thách thức và vấn đề liên quan đến việc áp dụng mã vạch trong hệ thống quản lý thư viện hiện đại.
Mã vạch thường không có khả năng tương tác trực tiếp, điều này có thể giới hạn khả năng cung cấp thông tin chi tiết và tương tác đa chiều với người sử dụng. Việc tích SVTH: NGUYỄN XUÂN TÍNH – TRẦN MINH THẮNG 8 XÂY DỰNG HỆ THỐNG TRẢ SÁCH TỰ ĐỘNG CHO THƯ VIỆN GVHD:HOÀNG BÁ ĐẠI NGHĨA hợp các phương tiện tương tác như ứng dụng di động hoặc các công nghệ mới như thực tế ảo có thể tăng cường trải nghiệm người dùng và khả năng tương tác. Một thách thức khác là sự hạn chế của mã vạch tuyến tính (1D) trong việc chứa thông tin. Điều này có thể gây khó khăn trong việc quản lý tài liệu có kích thước lớn và yêu cầu một lượng thông tin chi tiết hơn.
Sự chuyển đổi sang mã vạch hai chiều (2D) có thể là một giải pháp để tăng cường khả năng lưu trữ và quản lý thông tin đồng thời. Hệ thống quản lý thư viện cũng phải đối mặt với vấn đề về khả năng đọc và độ chính xác của mã vạch. Môi trường thư viện thường xuyên gặp các yếu tố như bụi bẩn, tổn thương hoặc độ nhám, điều này có thể làm giảm khả năng đọc mã vạch. Việc sử dụng các thiết bị đọc không đủ chất lượng hoặc không được bảo trì đều có thể ảnh hưởng đến hiệu suất của hệ thống.2 Phạm vi nghiên cứu Đề tài nghiên cứu cách thức hoạt động của GM65 1D 2D QR Barcode Reader Module, sử dụng động cơ bước cùng với driver TB6600, Adruino và cảm biến hồng ngoại, LCD đồng thời dùng csdl là thư viện của nhà trường.