Chương 1. Cơ sở lý luận về hoạt động thu hút khách du lịch nội địa của điểm đến. Thực trạng hoạt động thu hút khách du lịch nội địa đến với Bắc Hà - Lào Cai. Giải pháp đây mạnh thu hút khách du lịch nội địa đến với Bắc Hà - Lào Cai.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HOẠT ĐỘNG THU HUT KHÁCH DU LICH NOI DIA CUA DIEM DEN 1. Diém dén du lich 1. Khát niệm Điểm đến du lịch (Tourist destination hay tourist attraction) là yếu tố quan trong dé hình thành các tuyến du lich và các điểm đến du lịch quy mô lớn. Phát triển một vùng, một khu vực thành điểm đến du lịch sẽ góp phần phát triển kinh tế địa phương, kinh tế quốc gia.
Việc phát triển điểm du lịch có thé do các chủ đầu tư là các cá nhân, doanh nghiệp, tô chức. đảm nhận và chịu trách nhiệm đầu tư, quản lý với mục đích kinh doanh có lãi. Dé phát triển một điểm đến du lịch sẽ cần rất nhiều yếu tố như tài nguyên du lịch, đây là yếu t6 quan trọng nhất quyết định đến sự thành công; Các yếu tố khác như cơ sở hạ tầng phục vụ cho du lịch: Nguồn nhân lực và các điều kiện về sự sẵn sàng đón du khách. “Điểm đến du lịch” tiếng Anh là Tourism Destination.
Tổ chức Du lịch Thế giới cho rằng: Điểm đến du lịch là vùng không gian địa lý mà khách du lịch ở lại ít nhất một đêm, bao gồm các sản phẩm du lịch, các dịch vụ cung cấp, các tài nguyên du lịch thu hút khách, có ranh giới hành chính để quản lý và có sự nhận diện về hình ảnh để xác định khả năng cạnh tranh trên thị trường. [59] Một khái niệm khác cho rằng Tourist attraction là một điểm thu hút khách du lịch tới để tham quan. Ở nơi đó có nhiều giá trị đem lại đó là các giá trị về văn hóa, giá trị về lịch sử được con người xây dựng và tôn tạo. Cung cấp các dịch vụ như vui chơi giải trí, khám phá các trò phiêu lưu mạo hiểm hoặc trải nghiệm những điều mới lạ.
Như vậy có thê thấy khái niệm về điểm đến du lịch là một phạm trù rất rộng. Nó có thé là một khu vực, một châu lục, một đất nước hoặc chỉ là một địa phương, một thành phố, một làng. Phân loại Điểm đến du lịch rất đa dạng về thé loại và dựa vào rất nhiều tiêu thức phân loại khác nhau. Có tác giả phân loại điểm đến du lịch mang tính chất khu vực đề vừa hợp tác vừa cạnh tranh từ đó thu hút các nguồn khách du lịch thông qua tuyên truyền, quảng cáo, xúc tiến du lịch; Điểm đến theo phạm vi quốc gia dé thu hút nguồn khách quốc tế đến với nước mình, để làm được như vậy họ tập trung vào việc quảng bá cũng như xây dựng hình ảnh của quốc gia, đầu tư vào cơ sở hạ tầng và hoàn thiện các thủ tục pháp lý; Điểm đến mang tính địa phương đó chính là tao ra nhiều sản pham độc đáo dé có thé phân biệt điểm đến của mỗi địa phương.
Theo các mức độ hay quy mô thì có thể phân loại thành điểm đến có quy mô lớn, đó là điểm đến ở vùng lãnh thổ hay là ở khu vực; điểm đến vĩ mô là các điểm ở cấp độ quốc gia; điểm đến vi mô là các vùng, các tỉnh, thành phố, các huyện hoặc xã. Trong lãnh thổ một nước. Khách du lịch và đặc điểm của khách du lịch 1. Khách du lịch Khách du lịch là yếu tố quan trọng quyết định đến hoạt động và phát triển của ngành du lịch.
Có khách du lịch thì ngành du lịch mới bán được sản phẩm, nếu không có khách thì hoạt động của các nhà kinh doanh dịch vụ trở nên vô nghĩa, hoạt động du lịch không thể diễn ra. Xét trên góc độ thị trường thì cầu du lịch chính là những yêu cầu của khách du lịch về hàng hóa và dịch vụ, cung du lịch là sự đáp ứng các nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ đó của các nhà kinh doanh du lịch. Năm 1993, Hội đồng thống kê Liên hiệp quốc (United Nations Statistical Commission) đã thống nhất công nhận một số thuật ngữ về du lịch đó là: Khách du lịch quốc tế ra nước ngoài (outbound tourist): gồm những người đang sống trong một quốc gia đi du lịch nước ngoài. Khách du lịch trong nước (internal tourist): gồm những người là công dân của một quốc gia và những người nước ngoài đang sống trên lãnh thổ của quốc gia đó đi du lịch trong nước.
11 Khách du lịch nội dia (domestic tourist): bao gồm khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế đến. Khách du lịch quốc gia (national tourist): bao gồm khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế ra nước ngoài. Theo tác giả Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa: Khách du lịch phải là người khởi hành rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình (Ở đây tiêu chí quốc tịch không quan trọng, mà là tiêu chí nơi cư trú thường xuyên). Khách du lịch có thê khởi hành với mọi mục đích khác nhau, loại trừ mục đích lao động để kiếm tiền ở nơi đến Như vậy, những đối tượng không được thống kê là khách du lịch là những người đến dé làm việc có hoặc không có hợp đồng lao động; Những người đi học; Những người di cư, ti nạn; Những người làm việc tại các đại sứ quán, lãnh sự quan; Những người thuộc lực lượng bảo an của Liên hiệp quốc.
[12] Tác giả Trần Đức Thanh cho rằng: “Du khách là người từ nơi khác đến với/ hoặc kèm theo mục dich thẩm nhận tại chỗ những giá trị vật chất, tinh than hữu hình hay vô hình của thiên nhiên và/ hoặc của cộng dong xã hội. Về phương diện kinh tế, du khách là người người sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp du lịch như lit hành, lưu tru, ăn uống.” [40] Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Luật Du lịch 2017 có quy định về khái niệm và phân loại của khách du lịch như sau: Khách du lịch là người di du lịch hoặc kết hợp di du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc đề nhận thu nhập ở nơi đến. [30] Theo Điều 10 Luật Du lịch 2017: Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và khách du lịch ra nước ngoài; Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam di du lịch trong lãnh thé Việt Nam; Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; Khách du lịch ra nước ngoài là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú ở Việt Nam đi du lịch nước ngoài. [30] 12 Như vậy, trong khuôn khổ của đề tài nghiên cứu về khách nội địa, có thể hiểu: khách nội địa là những người đi khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình để đến một nơi khác ở trong nước với thời gian liên tục ít hơn 12 tháng và mục đích là để thăm quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài việc tiến hành các hoạt động nhằm đem lại thu nhập va kiếm sống ở nơi đến.
Đặc điểm của khách du lịch và khách du lịch nội địa 1. Phân loại khách du lịch - Đặc điểm về nhân khẩu học: Thứ nhất, về độ tuôi: Căn cứ vào độ tuổi có thé xếp thành các nhóm du khách như: Cao tuổi, trung niên, thanh niên, trẻ em. Ở mỗi độ tuôi này nhu cầu du lịch sẽ khác nhau. + Nhóm du khách cao tuổi: Họ có xu hướng di du lịch cùng gia đình, thích các loại hình du lịch nghỉ dưỡng, nghỉ dưỡng kết hợp với hồi phục sức khỏe, điều trị bệnh.
Nhóm du khách này sẽ có các nhu cầu về phục vụ tận tình, chu đáo. + Nhóm du khách trung niên: Là đối tượng tham gia du lịch và tiêu dùng du lịch nhiều nhất, ho còn chịu trách nhiệm tô chức cho gia đình đi du lịch. + Nhóm du khách thanh niên: Là đối tượng có nhu cầu cao, nhưng dễ thay đôi, thích khám phá tìm tòi, nhu cầu tiêu dùng cho du lich ở mức trung bình. + Nhóm du khách trẻ em: Thường là đi du lịch cùng gia đình hoặc đi theo đội, nhóm do trường tổ chức.
Nhóm này có nhu cầu khám phá, thích kết bạn. Tiêu dùng trong du lịch cũng ở mức trung bình. [43] Thứ hai, về giới tính: Có môi quan hệ mật thiết với lứa tuổi, giới tính sẽ liên quan đến đặc điểm tâm lý, sinh lý và có tác động đến nhu cầu du lịch. Thứ ba, về trình độ học van: có ảnh hưởng đến nhu cầu du lịch, nhóm có trình độ cao thường có nhu cầu du lịch nhiều hơn.
Thứ tư, về nghề nghiệp: ảnh hưởng đến thói quen, tâm lý và cũng ảnh hưởng đến nhu cầu du lịch vì liên quan đến thu nhập. Thứ năm, về quốc tịch: do ảnh hưởng về văn hóa và chính trị nên nhu cầu du lịch của mỗi du khách đến từ từng quốc gia cũng khác nhau. [43] 13 - Đặc điểm về tiêu dùng Liên quan đến mục đích của chuyến du lịch, phương tiện vận chuyên, thời gian lưu trú. từ đó sẽ xác định được mức độ tiêu dùng của khách.
Về mục đích của chuyến di: Trong thực tế có 2 loại mục đích đó là thuần túy du lịch dé tham quan, du lịch giải trí, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch khám phá, du lịch thể thao; mục đích nữa là kết hợp tham gia hoạt động du lịch vào những khoảng thời gian rỗi trong chuyến đi như du lịch MICE, du lịch thăm thân, du lịch thé thao kết hợp. Về phương tiện vận chuyển: Khách du lịch thường sử dụng các phương tiện ô tô, máy bay, tàu hỏa, tàu thủy. Ngoài ra, trong một số loại hình du lịch có sử dụng xe đạp, xe máy. Với mỗi đối tượng du khách khác nhau thì nhu cầu về chất lượng dịch vụ vận chuyển cũng khác nhau.
Về thời gian lưu trú: Lưu tri dai ngày từ 1 tuần đến dưới 1 năm, thường vào kỳ nghỉ hè, nghỉ đông, nghỉ phép; ngắn ngày thường có thể là 6 ngày 5 đêm, 5 ngày 4 đêm, 4 ngày 3 đêm, 3 ngày 2 đêm, 2 ngày | đêm. Ngoài ra hình thức đi du lịch, số lần đi du lịch nguồn thông tin cũng đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng quyết định tiêu dùng sản phẩm du lịch của du khách. Những nguồn thông tin này được cung cấp từ bạn bè, người thân của du khách; sự tư van của công ty du lịch; phương tiện phát thanh, truyền hình; ấn phẩm du lịch, Internet.