Phần mở đầu Ở chương đầu tiên, tác giả sẽ khái quát về chủ đề bài luận, tính cấp thiết của đề tài, đối tượng nghiên cứu, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu. Khái quát sơ lược phương pháp nghiên cứu sẽ sử dụng trong bài viết. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết về thanh toán điện tử tại Việt Nam Trong chương tiếp theo, tác giả đưa ra những lý thuyết về thanh toán điện tử dựa trên những cơ sở lý thuyết hiện tại và các bài nghiên cứu liên quan. Chƣơng 3: Thực trạng thanh toán điện tử tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số Tại đây, đánh giá và nhận xét số liệu được tổng hợp.
Từ đó, đưa ra những thành tựu lĩnh vực thanh toán điện tử đạt được và hạn chế hiện có. Qua đó, đưa ra nhìn nhận khách quan về triển vọng phát triển và những thách thức đối với thanh toán điện tử trong giai đoạn tiếp theo. Chƣơng 4: Hàm ý chính sách phát triển thanh toán điện tử tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số 10 Chương cuối bài viết, tác giả sẽ xem xét lại kết quả nghiên cứu ở chương 3 để đưa ra kết luận và hàm ý chính sách, góp phần phát triển thanh toán không dùng tiền mặt cũng như thanh toán điện tử trong giai đoạn mới. 11 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THANH TOÁN ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM 2.1 Khái niệm và lịch sử hình thành thanh toán điện tử Trong thời đại công nghệ số, sự tăng trưởng vượt trội của Internet đã kích thích các nhu cầu về hệ thống TTĐT.
Thanh toán điện tử còn được gọi là thanh toán trực tuyến, được định nghĩa là một loại mô hình giao dịch được thực hiện thông qua các thiết bị điện tử. Ngày nay chúng ta có thể thấy được sự thay đổi lớn trong số hoá các hoạt động kinh doanh, thực hiện và và chấp nhận thanh toán xu hướng chuyển từ tiền mặt sang thanh toán không tiền mặt. Một xã hội không tiền mặt là văn hóa không có người dân nào sử dụng tiền mặt để thanh toán, tất cả các giao dịch mua bán được thực hiện bằng các công cụ thanh toán điện tử như thẻ thanh toán, séc điện tử, hoặc chuyển khoản trực tiếp thông qua ngân hàng di động, (Atzei, 2018). Từ rất lâu về trước, trên thế giới đã xuất hiện loại hình TTĐT, tất nhiên không thể không kể đến sự phát triển của Internet, trong đó yếu tố hàng đầu thúc đẩy sự phát triển của TTĐT là công nghệ.
Từ những năm 1870 khi mà Western Union cho ra mắt hệ thống chuyển tiền điện tử vào năm 1871. Nhu cầu về thanh toán cho các loại hàng hóa dịch vụ mà không cần phải đến tận nơi các điểm bán hàng dần xuất hiện và tăng lên, dần dần chú trọng tới với gửi tiền để thanh toán. Trong giai đoạn từ những năm 1870 đến cuối những năm 1960, có sự chuyển đổi chậm của các khoản thanh toán này. Tiếp đó, FED (Cục Dự trữ Liên bang Mỹ) bắt đầu sử dụng điện báo để chuyển tiền vào những năm 1910.
Những năm 50, công ty thẻ tín dụng độc lập đầu tiên ra đời là Diner Diner Club International, ngay sau đó là American Express cho ra mắt thẻ nhựa đầu tiên trên thế giới cho TTĐT vào năm 1959. Năm 1972, ACH – Nhà thanh toán tự động được phát triển để xử lý hàng loạt khối lượng giao dịch lớn. Chỉ hai năm sau đó, các thiết lập quy tắc hoạt động cho thanh toán 12 ACH được đặt ra cho NACHA – hệ thống gửi tiền và thanh toán qua mạng ACH, trong đó bảo mật và lưu trữ là mối quan tâm hàng đầu. Tại Việt Nam, bùng nổ sự phát triển của Internet, thẻ ngân hàng và các trang thương mại điện tử, xu hướng công nghệ 4.0 diễn ra sôi nổi, và TTĐT là xu thế tất yếu.
Thương mại điện tử kéo theo sự ra đời của TTĐT, tạo được nhiều sự thuận lợi, tiết kiệm thời gian trong việc mua sắm (mua hàng hóa trực tuyến, vé máy bay, tàu, …) cũng như thanh toán hóa đơn mỗi ngày (các dịch vụ cước phí điện thoại, hóa đơn điện nước, Internet, truyền hình cáp, …). Chuyển đổi số tại Việt Nam từ năm 2022 đã bước vào giai đoạn tăng tốc, hàng loạt các nhà băng chuyển đổi số và tự sáng tạo số kết hợp với thế tiến mạnh mẽ của các Fintech, các doanh nghiệp số hóa hoạt động kinh doanh, Chính phủ Việt Nam triển khai hàng loạt các chiến lược gia tăng sử dụng dịch vụ công trực tuyến toàn dân, số hóa đất nước.2 Các hình thức thanh toán điện tử Nhờ tác động của dịch Covid-19, hoạt động thương mại điện tử phát triển thúc đẩy TTĐT trong nhiều lĩnh vực. Năm 2020 chứng kiến nhiều TCTD chủ động chuyển qua kênh số, các sản phẩm ngân hàng số kết hợp với công nghệ điện toán đám mây (Cloud Native), dữ liệu lớn (Big Data), phân tích dữ liệu (Data Analysis), tự động hóa quy trình bằng robot, trí tuệ nhân tạo (AI), học máy (Machine Learning), định danh điện tử (eKYC), chuỗi khối (Blockchain), … được ứng dụng vào các hoạt động nghiệp vụ và cung ứng sản phẩm, dịch vụ nhằm cá nhân hóa trải nghiệm của khách hàng, nâng cao hiệu quả hoạt động. Công nghệ số đã và đang dần thay đổi cơ bản hình thức cung ứng các dịch vụ tài chính – ngân hàng.
Ngân hàng không còn là độc tôn trong lĩnh vực ngành dịch vụ tài chính khi các gã khổng lồ về CNTT (IT) và bưu chính viễn thông cũng mạnh mẽ xâm nhập cạnh tranh. Kết hợp quá trình chuyển đổi kinh tế số và ảnh hưởng của đại dịch đã tạo bối cảnh thuận lợi cho hình thức giao dịch không dùng tiền mặt tăng trưởng, từng ghi nhận có thời điểm Napas xử lý số lượng giao dịch lên đến 11 triệu trong một ngày trong 13 năm 2021. Trước sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ 4.0, chủ động chuyển qua mô hình chuyển đổi số giúp ngân hàng và các TCTD hoàn toàn có thể đáp ứng nhu cầu khách hàng, đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ với chi phí thấp hơn, (Nguyễn Thị Hồng Ánh và ctg, 2022). Kirobo, Lissah và Govella (2022) cũng cho rằng các công cụ thanh toán điện tử có thiết bị giao dịch dễ sử dụng và chi phí thấp đã thu hút các nhà cung cấp chuyển sang các phương thức thanh toán này.
Tỷ lệ các hình thức thanh toán phổ biến 2022 0,26% 3,47% Quẹt thẻ ngân hàng/ thẻ tín dụng 8,82% Thẻ tín dụng ghi nợ online 29,48% 16,70% Quét QR code Chuyển khoản 13,30% Ví điện tử 27,97% Tiền mặt Khác (Nguồn: Sapo) Tuy nhiên, phương thức thanh toán tiền mặt truyền thống trở về vị trí chiếm tỷ trọng lớn nhất với tỷ trọng 29,48%, thanh toán chuyển khoản rơi xuống đứng thứ hai (27,97%). Vượt qua thanh toán bằng ví điện tử (13,30%), quét mã QR khá được ưa chuộng, sự bùng nổ của nó giúp phương thức này chiếm tỷ trọng 16,70%, vươn lên đứng thứ ba trong các loại hình thanh toán được chấp nhận nhiều nhất.1 Thanh toán bằng thiết bị điện thoại thông minh Qua Mobile Banking Mobile banking là hệ thống thanh toán qua điện thoại được xây dựng trên mô hình liên kết giữa ngân hàng, các nhà cung cấp viễn thông và người dùng. Phương thức thanh toán qua điện thoại ngày càng trở nên phổ biến tại Việt Nam khi điện thoại thông minh là công cụ thiết yếu của mỗi cá nhân. Dự kiến lượng người dùng smartphone tại Việt Nam năm 2023 ở mức 63,8 triệu người, con số này tăng 1,6% so với năm ngoái và chiếm 96,1% lượng người dùng Internet trên cả nước.
Tính đến hết năm 2023, dự đoán Việt Nam có thể là quốc gia đứng thứ hai chỉ sau mỗi Indonesia trong khu vực Đông Nam Á về lượng người dùng smartphone, (Insider Intelligence, 2023). Thống kê số liệu của Statista (2023) cho thấy số lượng người Việt dùng smartphone đạt 65,48 triệu người, xếp hạng đứng thứ 15 trên thế giới năm 2022. Ứng dụng công nghệ hiện đại vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội, các giải pháp công nghệ mới đang thay đổi toàn cảnh dịch vụ tài chính ở Việt Nam bao gồm các hình thức thanh toán mới. Thanh toán qua Internet Banking Đây là một loại dịch vụ ngân hàng trực tuyến do các NHTM cung cấp dựa trên phát triển nền tảng số.
Internet Banking là một hệ thống TTĐT cho phép người dùng thực hiện các giao dịch tài chính thông qua truy cập mạng Internet. Khách hàng thực hiện giao dịch trên các thiết bị di động mà không cần phải tới trực tiếp quầy giao dịch. Trái ngược với cách thức truyền thông của ngân hàng chi nhánh, hệ thống Internet Banking là một phần hoặc kết nối với hệ thống ngân hàng cốt lõi. Một số tiện ích giao dịch được số hóa thực hiện qua Internet Banking từ cơ bản như cập nhật thông tin tài khoản, số dư hiện có, chuyển khoản nội bộ và liên ngân hàng, thanh toán hóa đơn mua sắm, đến nộp thuế, mua bảo hiểm, mở tài khoản tiết kiệm online, … Trong năm 15 2022, hệ sinh thái số được các TCTD, các TCCUDVTT chú trọng phát triển tích hợp với công nghệ số như eKYC, thanh toán thẻ phi tiếp xúc, rút tiền bằng QR code, … nâng cao an toàn, bảo mật, tạo thuận lợi, thúc đẩy phổ biến TTKDTM tới người dân.
Qua QR code Đây là phương thức thanh toán ngày càng được ưa chuộng với tiện ích đơn giản, gọn nhẹ, dễ sử dụng và thân thiện với NTD. Tính năng QR code bắt đầu phổ biến thông qua các ứng dụng ví điện tử sau đó được tích hợp sẵn trên ứng dụng di động của các ngân hàng, có mặt trên danh thiếp, bảng hiệu, tạp chí, website, hàng hóa tại các siêu thị, cửa hàng tiện lợi, … giữa năm 2021, giải pháp VietQR của Napas ra đời đã đơn giản hóa quá trình, người dùng của bất cứ ngân hàng nào trong hệ thống liên kết cũng có thể chuyển tiền đến ngân hàng khác bằng thao tác quét QR. Mã QR được hiển thị dưới dạng ô vuông chứa một ma trận các ô vuông nhỏ, có tác dụng mã hóa chuỗi ký tự, khi được quét bằng ứng dụng phù hợp, hệ thống sẽ giải mã và thực hiện lệnh được thiết lập sẵn. Người dùng chỉ cần quét mã và hệ thống sẽ làm toàn bộ phần còn lại, thực hiện nhanh các giao dịch chuyển khoản, thanh toán hóa đơn, mua hàng, sau vài giây đã có thể thanh toán thành công tại các nhà hàng, siêu thị, taxi hay thậm chí là các website thương mại điện tử hay trên bất cứ sản phẩm nào có gắn mã mà không cần sử dụng tiền mặt, quẹt thẻ, đồng thời không lo bị rò rỉ thông tin cá nhân tại các điểm thanh toán.