Luận Văn Thạc Sĩ: Giải Pháp Tạo Việc Làm Cho Lao Động Dân Tộc Phù Lá Ở Huyện Văn Yên, Tỉnh Yên Bái

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu giải pháp tạo việc làm cho lao động dân tộc Phù Lá tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái, nhằm phát triển kinh tế địa phương.

Trường đại học

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Chuyên ngành

Kinh tế Nông nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

84
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tình hình việc làm và lao động dân tộc Phù Lá tại huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái

Tình hình việc làm của lao động dân tộc Phù Lá tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái đang gặp nhiều khó khăn. Theo nghiên cứu, tỷ lệ lao động thiếu việc làm và thất nghiệp lên đến gần 80%. Điều này phản ánh sự bất cập trong việc tạo cơ hội việc làmphát triển kinh tế tại địa phương. Lao động dân tộc Phù Lá chủ yếu phụ thuộc vào nông nghiệp và lâm nghiệp, với các hoạt động sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, chưa đem lại hiệu quả kinh tế cao. Thu nhập bình quân của người dân tộc Phù Lá chỉ đạt 638,9 nghìn đồng/tháng, thấp hơn nhiều so với mức trung bình cả nước.

1.1. Thực trạng việc làm và thu nhập

Thực trạng việc làm của lao động dân tộc Phù Lá tại huyện Văn Yên cho thấy, hơn 98% dân số đã biết nói tiếng phổ thông và hơn 62% biết chữ. Tuy nhiên, cơ hội việc làm vẫn còn hạn chế. Các hộ dân tộc Phù Lá chủ yếu sống trong nhà tạm và nhà kiên cố, tỷ lệ hộ có điện sinh hoạt tăng từ 39,94% năm 2015 lên 48,29% năm 2017. Thu nhập bình quân của dân tộc Phù Lá đứng thứ 42/53 các dân tộc trên cả nước, phản ánh sự chênh lệch lớn về phát triển kinh tếtạo việc làm bền vững.

1.2. Nguyên nhân và thách thức

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng thiếu việc làmthu nhập thấp của lao động dân tộc Phù Lá là do cơ sở hạ tầng yếu kém, đào tạo nghề chưa đáp ứng nhu cầu, và thiếu chính sách việc làm hiệu quả. Phát triển kinh tế tại địa phương còn chậm, chưa tạo được động lực mạnh mẽ để tăng cường sinh kếhỗ trợ phát triển cho người dân. Thách thức lớn nhất là làm thế nào để thúc đẩy việc làmphát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh địa hình chia cắt và điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn.

II. Giải pháp tạo việc làm bền vững cho lao động dân tộc Phù Lá

Để tạo việc làm bền vững cho lao động dân tộc Phù Lá tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái, cần thực hiện các giải pháp việc làm toàn diện. Trọng tâm là phát triển kinh tế địa phương thông qua hỗ trợ phát triển các ngành nghề phù hợp, đào tạo nghề cho lao động, và tăng cường sinh kế cho người dân. Chính sách việc làm cần được điều chỉnh để phù hợp với đặc thù của dân tộc Phù Lá, đồng thời hỗ trợ lao động trong việc tiếp cận các nguồn lực và thông tin về cơ hội việc làm.

2.1. Phát triển cơ sở hạ tầng và giao thông

Một trong những giải pháp việc làm quan trọng là phát triển cơ sở hạ tầng và giao thông tại huyện Văn Yên. Việc cải thiện hệ thống giao thông sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa, phát triển kinh tế địa phương, và mở rộng cơ hội việc làm cho lao động dân tộc Phù Lá. Đầu tư vào cơ sở hạ tầng cũng giúp thu hút các doanh nghiệp và nhà đầu tư, từ đó tạo việc làm bền vững cho người dân.

2.2. Đào tạo nghề và hỗ trợ lao động

Đào tạo nghề là yếu tố then chốt để tăng cường sinh kếphát triển nguồn nhân lực cho lao động dân tộc Phù Lá. Các chương trình đào tạo nghề cần được thiết kế phù hợp với nhu cầu thực tế của địa phương, tập trung vào các ngành nghề phù hợp như nông nghiệp, lâm nghiệp, và tiểu thủ công nghiệp. Hỗ trợ lao động trong việc tiếp cận các nguồn lực và thông tin về cơ hội việc làm cũng là một phần quan trọng của giải pháp việc làm.

III. Phát triển văn hóa và xã hội đặc thù của dân tộc Phù Lá

Phát triển văn hóa - xã hội đặc thù của dân tộc Phù Lá là một phần không thể thiếu trong giải pháp tạo việc làm tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Phù Lá không chỉ góp phần phát triển cộng đồng mà còn tạo ra các cơ hội việc làm mới trong lĩnh vực du lịch và thủ công mỹ nghệ. Hỗ trợ phát triển các làng nghề truyền thống và tổ chức các hoạt động văn hóa sẽ giúp tăng cường sinh kếphát triển kinh tế địa phương.

3.1. Bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống

Bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của dân tộc Phù Lá là một trong những giải pháp việc làm hiệu quả. Các hoạt động như đan lát, dệt vải, và nhuộm chàm không chỉ giữ gìn bản sắc văn hóa mà còn tạo ra cơ hội việc làm cho người dân. Phát triển cộng đồng thông qua các hoạt động văn hóa cũng giúp tăng cường sinh kếphát triển kinh tế địa phương.

3.2. Phát triển du lịch và thủ công mỹ nghệ

Phát triển du lịchthủ công mỹ nghệ là hướng đi tiềm năng để tạo việc làm bền vững cho lao động dân tộc Phù Lá. Việc quảng bá các sản phẩm thủ công truyền thống và phát triển các điểm du lịch văn hóa sẽ thu hút khách du lịch, từ đó tăng cường sinh kếphát triển kinh tế địa phương. Hỗ trợ phát triển các làng nghề và tổ chức các hoạt động văn hóa cũng là một phần quan trọng của giải pháp việc làm.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ giải quyết việc làm cho lao động dân tộc phù lá huyện văn yên tỉnh yên bái

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm việc làm Quan niệm về việc làm không phải là bất biến, cố định mà có sự thay đổi. Nó luôn được xem xét trên nền tảng của một chế độ chính trị, gắn với trình độ phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội của mỗi quốc gia, mỗi thời đại.

Khi trình độ phát triển mọi mặt, đặc biệt là định hướng chính trị của một quốc gia thay đổi, quan niệm việc làm cũng biến đổi. Ở những thời kỳ khác nhau quan niệm về việc làm cũng có sự khác nhau nhất định. Tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13 năm 1983, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã đưa ra quan niệm về người có việc làm như sau: "Người có việc làm là những người làm một việc gì đó, có được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình, không nhận được tiền công hay hiện vật"(Giáo trình luật lao động, 1999). Từ khi thực hiện đường lối đổi mới, quan niệm về việc làm đã có sự thay đổi.

Trên cơ sở vận dụng khái niệm việc làm của ILO và nghiên cứu điều kiện cụ thể của Việt Nam, chúng ta đã có khái niệm thống nhất về việc làm được khẳng định trong điều 13 chương II Bộ luật Lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: "Mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm". (Bộ luật lao động, 2012) Từ những quan niệm trên ta thấy: Khái niệm việc làm bao hàm các nội dung sau: + Là hoạt động lao động của con người. + Hoạt động lao động nhằm mục đích tạo ra thu nhập. + Hoạt động lao động đó không bị pháp luật cấm.

5 Với khái niệm việc làm như trên đã xoá bỏ được quan niệm cứng nhắc trước đây là chỉ những người "trong biên chế nhà nước" mới là người có việc làm. Việc làm không chỉ trong biên chế, mà còn ngoài biên chế, không chỉ ngoài xã hội, mà còn tại gia đình. Với khái niệm việc làm như vậy, tất cả những ai đang làm việc trong các thành phần kinh tế, trong các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp, trường học hoặc tại gia đình (kể cả nội trợ) đều được coi là có việc làm. Những nội dung trong khái niệm việc làm có quan hệ chặt chẽ với nhau, và là điều kiện cần và đủ của một hoạt động được thừa nhận là việc làm.

Nếu một hoạt động lao động chỉ tạo ra thu nhập nhưng vi phạm luật pháp như: trộm cắp, buôn bán hêrôin, mại dâm,. Không thể được công nhận là việc làm. Mặt khác, một hoạt động dù là hợp pháp, có ích nhưng không tạo ra thu nhập cũng không được thừa nhận là việc làm - chẳng hạn như việc bà trông cháu hoặc làm những công việc nội trợ hàng ngày giúp cho gia đình con gái: đi chợ, nấu cơm, giặt giũ quần áo,. Nhưng nếu người phụ nữ đó cũng thực hiện các công việc nội trợ tương tự cho gia đình người khác và được trả công thì hoạt động của họ lại được thừa nhận là việc làm.

Điểm đáng lưu ý là tùy theo phong tục, tập quán của mỗi dân tộc và pháp luật của các quốc gia, các thời kỳ khác nhau mà có những quan niệm khác nhau về việc làm: Ví dụ: mại dâm của phụ nữ được coi là việc làm của phụ nữ ở Thái Lan, Philippin vì được pháp luật bảo hộ và quản lý; nhưng ở Việt Nam hoạt động đó được coi là hoạt động phi pháp, vi phạm pháp luật và không được thừa nhận là việc làm. Như vậy, khái niệm việc làm được mở rộng về nội hàm và tạo ra khả năng to lớn giải phóng tiềm năng lao động, giải quyết việc làm cho nhiều người. Việc chuẩn và lượng hoá khái niệm việc làm tạo ra cơ sở thống nhất trong lĩnh vực điều tra, nghiên cứu và hoạch định các chính sách về việc làm.(Bùi Sỹ Lợi, 2015) * Người có việc làm: là người đủ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân, với thời gian làm việc không ít hơn mức chuẩn quy định cho người có việc làm trong tuần lễ tham khảo. Mức chuẩn ở Việt Nam: Làm việc ít nhất 16 giờ trong một tuần.

6 * Người thiếu việc làm: Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thì người thiếu việc làm là người trong tuần lễ tham khảo có số giờ làm việc dưới mức quy định chuẩn cho người có đủ việc làm và có nhu cầu làm thêm. Ở Việt Nam hiện nay, mức chuẩn về thời gian làm việc cho người thiếu việc làm là làm việc dưới 40 giờ (5 công) trong tuần lễ tham khảo hoặc trong tuần lễ tham khảo không làm việc vì lý do bất khả kháng, nhưng 4 tuần trước đó làm việc dưới 160 giờ (20 công) và có nhu cầu làm thêm. * Người đủ việc làm: Là những người có việc làm với thời gian làm việc không ít hơn mức giờ chuẩn quy định cho người đủ việc làm trong tuần lễ tham khảo hoặc là những người làm việc dưới giờ chuẩn quy định cho người đủ việc làm, nhưng không có nhu cầu làm thêm. Mức chuẩn: Làm việc 40 giờ trở lên trong tuần lễ tham khảo.

* Thất nghiệp: Đối lập với việc làm, thất nghiệp là một tình trạng có tính quy luật của các nền kinh tế thị trường. Có nhiều khái niệm khác nhau về thất nghiệp. Theo quan niệm của ILO: "Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc, nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền công đang thịnh hành".(Bùi Sỹ Lợi (2015), Thất nghiệp và việc làm - thực trạng và thách thức. Lao động "Lao động là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạt động đó con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích phục vụ nhu cầu của con người".(Bộ luật lao đông, 2012) Khái niệm này nhấn mạnh nhiều vào hoạt động sản xuất vật chất tạo của cải vật chất cho sự phát triển của xã hội.

Thực tế, hoạt động lao động của con người được thực hiện trên nhiều lĩnh vực hết sức phong phú và đa dạng, như nghiên cứu khoa học, hoạt động văn hoá nghệ thuật.Vì vậy, khái niệm này chưa thể hiện rõ được hết các hoạt động lao động của con người. 7 Giáo trình: Kinh tế học chính trị Mác - Lênin viết: "Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ các nhu cầu của đời sống con người" Bộ Luật Lao động của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam viết: "Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội". Hai khái niệm sau cơ bản giống nhau và khái quát được một cách toàn diện các hoạt động lao động phong phú của con người. Hoạt động lao động của con người có vai trò hết sức quan trọng.

Trong lao động sản xuất ra của cải vật chất, con người luôn tác động vào các vật chất của tự nhiên, biến đổi nó cho phù hợp với nhu cầu của con người. Trong quá trình đó, con người ngày càng phát hiện được những đặc tính, những quy luật của thế giới tự nhiên, từ đó họ cũng không ngừng thay đổi phương pháp, cách thức hoạt động của họ, cải tiến các thao tác và công cụ lao động sao cho hoạt động của họ ngày càng hiệu quả hơn. Như vậy, con người và tự nhiên có mối quan hệ biện chứng hữu cơ với nhau trong quá trình con người phát triển hướng tới một xã hội văn minh và hiện đại. Trong lao động con người không chỉ nâng cao được trình độ hiểu biết về thế giới tự nhiên mà còn cả những kiến thức về xã hội và nhân cách đạo đức.

Lao động là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển xã hội. Khái niệm nguồn lao động và lực lượng lao động Nguồn lao động và lực lượng lao động là những khái niệm có ý nghĩa quan trọng làm cơ sở cho việc tính toán cân đối lao động, việc làm trong xã hội. * Khái niệm nguồn lao động: “Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao động và những người ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân” (Bộ luật lao động, 2012) 8 Việc quy định độ tuổi lao động tuỳ mỗi nước có quy định khác nhau, thậm chí khác nhau ở các giai đoạn của mỗi nước. Điều đó tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế.

* Khái niệm lực lượng lao động: Theo quan niệm của tổ chức lao động Quốc tế (ILO) là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động. Theo thực tế đang có có việc làm và những người thất nghiệp. Theo tổ chức lao động của (ILO): Lực lượng lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, thực tế có tham gia lao động và những người không có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm. Theo thuật ngữ về lĩnh vực lao động của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội thì lực lượng lao động là những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người thất nghiệp.

Lực lượng lao động đồng nghĩa với dân số hoạt động kinh tế; lực lượng lao động là bộ phận hoạt động của nguồn lao động. Từ những quan niệm của các nhà nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam, chúng tôi đưa ra quan niệm về lực lượng lao động như sau: Lực lượng lao động bao gồm toàn bộ những người từ đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc không có việc làm, nhưng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc. Khái niệm việc làm và khái niệm lao động không giống nhau, nhưng có liên quan chặt chẽ với nhau. Việc làm thể hiện mối quan hệ của con người với những chỗ làm việc cụ thể, là những giới hạn xã hội cần thiết trong đó lao động diễn ra, đồng thời nó là điều kiện cần thiết để thoả mãn nhu cầu xã hội về lao động, là nội dung chính của hoạt động con người.

Về góc độ kinh tế, việc làm thể hiện mối tương quan giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, giữa yếu tố con người và yếu tố vật chất trong quá trình sản xuất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Giải Pháp Tạo Việc Làm Cho Lao Động Dân Tộc Phù Lá Tại Huyện Văn Yên, Tỉnh Yên Bái là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc đề xuất các giải pháp nhằm tạo việc làm bền vững cho cộng đồng dân tộc Phù Lá tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Tài liệu này phân tích thực trạng việc làm, những thách thức mà người lao động đang đối mặt, và đưa ra các chiến lược cụ thể để cải thiện thu nhập và chất lượng cuộc sống. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu, và những ai quan tâm đến phát triển kinh tế địa phương và bảo tồn văn hóa dân tộc.

Để mở rộng kiến thức về các giải pháp phát triển kinh tế địa phương, bạn có thể tham khảo Luận văn nghiên cứu tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa cây cảnh ở huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên, hoặc tìm hiểu thêm về quản lý dự án đầu tư qua Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn đầu tư công trên địa bàn huyện Kiến Thụy thành phố Hải Phòng. Ngoài ra, Luận văn phát triển kinh tế huyện Như Thanh tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010-2021 cũng cung cấp những góc nhìn sâu sắc về phát triển kinh tế địa phương. Hãy khám phá thêm để có cái nhìn toàn diện hơn về các giải pháp kinh tế bền vững.