CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG 1. Cơ sở lý luận quản lý Nhà nước về xây dựng 1. Khái niệm quản lý Nhà nước về xây dựng 1. Khái niệm quản lý Nhà nước Quản lý Nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước tiến hành đối với tất cả mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội, trên tất cả các mặt của đời sống xã hội bằng cách sử dụng quyền lực nhà nước có tính cưỡng chế đơn phương nhằm mục tiêu phục vụ lợi ích chung của cả cộng đồng, duy trì ổn định, an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển theo một định hướng thống nhất của nhà nước.
Quản lý nhà nước có tính toàn diện, bao gồm tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh, quốc phòng,… Chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan nhà nước (cán bộ, công chức có thẩm quyền phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao). Những chủ thể này tham gia vào quá trình tổ chức quyền lực nhà nước về lập pháp, hành pháp, tư pháp theo quy định của pháp luật. Khái niệm quản lý Nhà nước về xây dựng Hoạt động xây dựng bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi công xây dựng, giám sát thi công xây dựng công trình, quản lý dự án đầu tư xây dựng, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình. [16] Quản lý nhà nước về xây dựng là tác động của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền từ trung ương đến địa phương trong việc tổ chức, điều hành, điều chỉnh và trên cơ sở qui hoạch, kế hoạch, đảm bảo hài hòa kiến trúc quy hoạch và các qui định của pháp luật về trật tự xây dựng, nhằm điều chỉnh 2 các hành vi của các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật về xây dựng, đảm bảo cho các hoạt động xây dựng có trật tự, kỷ cương theo đúng quy định của pháp luật.
Vai trò và sự cần thiết của quản lý Nhà nước về xây dựng 1. Vai trò của quản lý Nhà nước về xây dựng Nhà nước luôn đóng vai trò quan trọng, chủ đạo và quyết định trong sự phát triển kinh tế xã hội nói chung và xây dựng nói riêng trong nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, được thể hiện cụ thể như sau: Nhà nước đã ban hành các Luật và các Văn bản quy phạm pháp luật trong quản lý chất lượng công trình xây dựng, trong công tác khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng và quản lý, sử dụng, bảo trì công trình phải đảm bảo an toàn cho con người, tài sản, thiết bị, công trình và các công trình lân cận và đảm bảo tối đa sự vận hành liên tục của công trình. Đơn giản hoá thủ tục hành chính trong đầu tư xây dựng như lập, thẩm định, phê duyệt và điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng; lập, thẩm tra, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư; phê duyệt thiết kế kỹ thuật, dự toán dự án đầu tư; phê duyệt quyết toán; cấp phép xây dựng Quy định cụ thể các quyền và trách nhiệm của cơ quan quản lý Nhà nước về xây dựng trong việc ban hành, hướng dẫn thực hiện quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn áp dụng, đề ra yêu cầu đối với các công việc như Lập dự án, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, khởi công xây dựng công trình. để bảo đảm cho việc xây dựng công trình tuân thủ các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, phù hợp với yêu cầu sử dụng và đáp ứng các yêu cầu về vệ sinh, an toàn, phòng chống cháy, nổ, bảo vệ cảnh quan và môi trường.
Cấp, thu hồi các loại giấy phép trong hoạt động xây dựng. 3 Thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, xử lý các vi phạm đối với các dự án theo quy định. Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành và phân cấp cho địa phương trong việc quản lý các dự án đầu tư xây dựng; tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động xây dựng. Có chính sách tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư xây dựng.
Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực xây dựng nhằm góp phần đảm bảo hài hoà kiến trúc, phù hợp về kiến trúc quy hoạch, cấp giấy phép xây dựng, đình chỉ xây dựng, giám sát trong quá trình thi công xây dựng công trình, điều tra thống kê, thanh quyết toán và lưu trữ hồ sơ các công trình đã xây dựng, kiểm tra xử phạt các vi phạm trật tự xây dựng. Mỗi dự án qui hoạch có tính khả thi cao đến đâu nếu công tác quản lý nhà nước về xây dựng mà lỏng lẻo thì cũng dẫn đến tình trạng xây dựng lộn xộn, cảnh quan kiến trúc đô thị bị phá vỡ. Tùy vào tình hình thực tế của mỗi địa phương có những cách quản lý và mức độ quản lý khác nhau. Tuy nhiên có một điểm chung của quản lý nhà nước về xây dựng đều tập trung vào hai nội dung chính đó là quản lý con người và quản lý sản phẩm trong hoạt động xây dựng [12].
Quản lý con người là quản lý các cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động xây dựng và đề ra những điều kiện, những tiêu chuẩn như chứng chỉ hành nghề, giấy phép hành nghề, giấy chứng nhận đăng ký hành nghề…cho cá nhân, các tổ chức. Và chỉ khi nào có đủ các giấy tờ theo yêu cầu thì các cá nhân, tổ chức hoạt động xây dựng được coi là hợp pháp. Quản lý sản phẩm trong hoạt động xây dựng là quản lý các giai đoạn để tạo ra sản phẩm xây dựng như giai đoạn chuẩn bị đầu tư, giai đoạn thực hiện đầu tư xây dựng và giai đoạn kết thúc đầu tư đưa công trình vào sử dụng. Sự cần thiết của quản lý Nhà nước về xây dựng Công tác quản lý đầu tư xây dựng không ngừng nâng cao về chất lượng trong thời gian qua, các công trình xây dựng đã phát huy mục đích đầu tư, tăng năng lực phục vụ quản lý, sản xuất cho các đơn vị.
Tuy nhiên, ở một số đơn vị, địa phương công tác quản lý đầu tư xây dựng còn nhiều bất cập, hạn chế, cụ thể như sau Quản lý chi phí, quản lý chất lượng trong quá trình đầu tư còn có những tồn tại cần phải khắc phục thể hiện qua việc chất lượng hồ sơ thiết kế, chất lượng công trình còn nhiều hạn chế như hồ sơ thiết kế không đạt yêu cầu kỹ thuật và có sai sót, hoặc thiết kế lãng phí nên phải điều chỉnh thiết kế; hoặc dự toán áp dụng sai định mức cần phải điều chỉnh, bổ sung. Hoạt động xây dựng không phù hợp với quy hoạch được duyệt, không đảm bảo hài hòa kiến trúc và cảnh quan đô thị, tình trạng xây dựng trái phép không xin phép còn diễn ra nhiều. Sử dụng vật liệu không phù hợp với loại hình công trình làm ảnh hưởng đến chất lượng công trình, khai thác nguồn tài nguyên không hợp lý. Chưa thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường, ATLĐ trong quá trình thi công.
Mục đích, yêu cầu của quản lý Nhà nước về xây dựng 1. Mục đích quản lý Nhà nước về xây dựng Trong quá trình hoạt động xây dựng cần phải có sự quản lý của Nhà nước nhằm mục đích Đảm bảo hoạt động đầu tư xây dựng diễn ra theo đúng chủ trương, đường lối, chính sách, kế hoạch đã định và tuân thủ các qui định của pháp luật, các qui định quản lý của các lĩnh vực chuyên ngành khác liên quan như các qui định về kiến trúc, quy hoạch, đất đai, nhà ở, cảnh quan môi trường; bảo vệ các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh; an toàn vệ sinh môi trường; 5 đảm bảo các dự án công trình đầu tư xây dựng hiện đại và phù hợp với truyền thống, bản sắc của dân tộc ta. Nâng cao chất lượng trong việc lập, thẩm tra, thẩm định, phê duyệt các dự án đầu tư xây dựng công trình để tránh việc phải điều chỉnh dự án và điều chỉnh tổng mức đầu tư dự án đầu tư xây dựng công trình. Do đó tiết kiệm ngân sách, thời gian của nhà nước, chủ đầu tư và nhân dân.
Hoàn thành dự án, công trình đảm bảo chất lượng, kỹ thuật; đúng tiến độ; đảm bảo trong phạm vi ngân sách được duyệt. Không ngừng nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức trong lĩnh vực QLNN về đầu tư xây dựng công trình, thực hiện đầu tư; bảo vệ tài nguyên môi trường, đất đai, khoáng sản trong hoạt động xây dựng Quản lý đầu tư và xây dựng một cách đồng bộ và toàn diện, tạo môi trường thuận lợi cho kinh doanh của các doanh nghiệp xây dựng 1. Yêu cầu của quản lý Nhà nước về xây dựng Nhằm đảm bảo thực hiện được mục đích của quản lý nhà nước về xây dựng đòi hỏi phải đạt được những yêu cầu sau Thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật về đầu tư xây dựng, đảm bảo đầu tư xây dựng theo đúng quy hoạch được duyệt. Quản lý đầu tư xây dựng công trình phải bảo đảm mục tiêu, hiệu quả dự án đầu tư xây dựng công trình và phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường.
Đảm bảo đầu tư xây dựng công trình phù hợp với các giai đoạn đầu tư xây dựng, các bước thiết kế, loại nguồn vốn và các quy định của Nhà nước. Đảm bảo tính thông suốt, liên tục, hiệu quả về quản lý và tổ chức thực hiện; phải phân công, phân cấp rõ ràng nhằm tránh đùn đẩy và né tránh trách nhiệm. Cần phải đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân. Cần phải quy định cụ thể các chủ thể chịu trách nhiệm toàn diện về việc 6 quản lý từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư đến khi kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác, sử dụng.
Đồng thời cần phải có biện pháp xử lý nghiêm đối với các hành vi vi phạm trong quá trình thực hiện. Công cụ quản lý Nhà nước về xây dựng 1. Pháp luật Pháp luật là hệ thống những qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình.