Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Cẩm Phả thuộc tỉnh Quảng Ninh sở hữu tổng diện tích tự nhiên là 48.645,40 ha, là trung tâm công nghiệp khai thác than trọng điểm của cả nước với sản lượng hàng năm đạt từ 25 đến 30 triệu tấn than sạch. Đi cùng với tốc độ phát triển công nghiệp hóa và hoạt động của các nhà máy nhiệt điện, xi măng quy mô lớn là sức ép nặng nề lên môi trường sinh thái, nguồn nước và diện tích thảm thực vật tự nhiên. Tính đến năm 2014, thành phố quản lý 20.224,26 ha diện tích có rừng, đạt tỷ lệ che phủ 54,0%, trong đó sản lượng khai thác gỗ keo hàng năm phục vụ thương mại và chống lò đạt khoảng 40.000 m3. Tuy nhiên, sự xung đột giữa mở rộng khai trường khai thác khoáng sản và duy trì diện tích lâm nghiệp đã làm phát sinh nhiều bất cập trong sử dụng đất rừng, đòi hỏi công tác quản lý nhà nước phải có những điều chỉnh căn cơ.

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện thực trạng công tác quản lý nhà nước về tài nguyên rừng trên địa bàn thành phố Cẩm Phả giai đoạn 2010 - 2014, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý đến năm 2020. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào 16 phường, xã thuộc địa bàn thành phố Cẩm Phả, kết hợp số liệu thống kê thứ cấp và điều tra thực địa. Ý nghĩa của luận văn thể hiện ở việc cung cấp cơ sở khoa học để chính quyền địa phương cân bằng bài toán bảo tồn tài nguyên sinh thái với phát triển kinh tế công nghiệp nặng, góp phần bảo vệ bền vững hơn 24.500 ha đất quy hoạch lâm nghiệp tại vùng kinh tế trọng điểm Đông Bắc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng học thuyết sinh thái học rừng của Morozov và Sukachev, nhìn nhận rừng là một quần lạc sinh địa thống nhất giữa sinh vật và môi trường vật lý, có khả năng tự điều hòa và tái tạo. Bên cạnh đó, luận văn áp dụng lý thuyết quản lý nhà nước về tài nguyên thiên nhiên, xác định quản lý nhà nước là quá trình cơ quan công quyền sử dụng quyền lực pháp lý, công cụ chính sách và quy hoạch để định hướng, điều tiết hành vi của các chủ thể khai thác, bảo vệ rừng.

Các khái niệm then chốt được triển khai bám sát Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, bao gồm việc phân loại ba loại rừng: rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Nghiên cứu cũng tích hợp các quy định pháp luật quan trọng như Nghị định số 09/2006/NĐ-CP về phòng cháy chữa cháy rừng, Nghị định số 99/2010/NĐ-CP về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg về rà soát quy hoạch ba loại rừng trên phạm vi toàn quốc.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu nghiên cứu kết hợp giữa dữ liệu thứ cấp thu thập từ UBND thành phố Cẩm Phả, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ninh, Hạt Kiểm lâm thành phố Cẩm Phả trong giai đoạn 2010 - 2014 và nguồn dữ liệu sơ cấp từ điều tra thực địa.

Cỡ mẫu khảo sát thực địa được xác định là 150 hộ gia đình và chủ rừng nhận giao khoán đất lâm nghiệp, kết hợp phỏng vấn sâu 22 cán bộ lãnh đạo, chuyên viên thuộc Phòng Kinh tế, Phòng Tài nguyên và Môi trường cùng 16 cán bộ kiểm lâm địa bàn. Phương pháp chọn mẫu áp dụng là chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên tại 5 xã, phường có diện tích lâm nghiệp tập trung lớn nhất gồm Mông Dương, Quang Hanh, Cộng Hòa, Cẩm Hải và Dương Huy. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho các loại hình quản lý rừng sản xuất và rừng phòng hộ. Phương pháp phân tích thống kê mô tả kết hợp đối chiếu văn bản quy phạm pháp luật được sử dụng nhằm lượng hóa sự biến động diện tích rừng qua các mốc thời gian, xác định rõ nguyên nhân sai lệch số liệu giữa các kỳ quy hoạch và đánh giá mức độ tuân thủ chính sách tại địa phương trong toàn bộ timeline nghiên cứu từ 2010 đến 2014, định hướng đến năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tổng diện tích đất lâm nghiệp của thành phố Cẩm Phả đạt 24.586,39 ha, chiếm 93,74% diện tích tự nhiên, trong đó đất rừng sản xuất chiếm 20.184,3 ha (tương đương 82,1% quỹ đất lâm nghiệp) và đất rừng phòng hộ chiếm 4.402,09 ha. Tỷ lệ che phủ rừng duy trì ổn định ở mức 54,0%, bình quân mỗi năm trồng mới trên 1.600 ha rừng tập trung và phân tán để hoàn nguyên môi trường tại các bãi thải mỏ.

Thứ hai, ngành nông lâm nghiệp chỉ đóng góp khoảng 1% trong cơ cấu giá trị sản xuất toàn thành phố nhưng lại giải quyết 6% việc làm cho lực lượng lao động nông thôn, với 193 trang trại lâm nghiệp đạt mức thu nhập bình quân khoảng 100 triệu đồng mỗi năm. Khối lượng gỗ keo khai thác đạt xấp xỉ 40.000 m3/năm, chủ yếu phục vụ nhu cầu làm gỗ chống lò cho các đơn vị khai khoáng thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam.

Thứ ba, công tác rà soát quy hoạch đất lâm nghiệp giữa Quyết định số 4903/QĐ-UBND năm 2007 và Quyết định số 2668/QĐ-UBND năm 2014 cho thấy sự điều chỉnh mạnh về ranh giới ba loại rừng, làm phát sinh diện tích đất có rừng nằm ngoài quy hoạch cần theo dõi.

Thứ tư, bộ máy quản lý nhà nước về lâm nghiệp tại Cẩm Phả có sự tham gia của 16 cán bộ Hạt Kiểm lâm, trong đó có 12 cán bộ trình độ đại học (chiếm 75%) và 2 cán bộ trình độ cao đẳng (chiếm 12,5%). Tuy nhiên, tỷ lệ biên chế còn khá mỏng khi một kiểm lâm viên phải phụ trách quản lý địa bàn rộng trung bình trên 1.500 ha rừng.

Thảo luận kết quả

Thực trạng quản lý rừng tại Cẩm Phả chịu tác động trực tiếp từ hoạt động khai thác than với sản lượng 25 đến 30 triệu tấn/năm và khai thác đá vôi đạt 732 nghìn tấn/năm. Áp lực phát triển công nghiệp dẫn đến tình trạng san gạt mặt bằng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất trái phép và tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng cao trong mùa khô khi lượng bốc hơi trung bình năm lên đến 936,6 mm.

So với các mô hình quản lý rừng cộng đồng hiệu quả tại Sơn La hay cơ chế quản lý rừng tập trung tại Liên bang Nga, Cẩm Phả có lợi thế vượt trội về thị trường tiêu thụ gỗ keo phục vụ ngành than nhưng lại hạn chế trong việc đa dạng hóa sinh kế và phát triển lâm sản ngoài gỗ. Về mặt trình bày dữ liệu, các biến động này có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột chồng so sánh diện tích rừng phòng hộ và rừng sản xuất giữa hai giai đoạn quy hoạch 2007 và 2014, kết hợp bảng ma trận phân loại chủ quản lý để làm rõ tỷ lệ diện tích đã giao cho hộ gia đình so với diện tích giao cho các công ty lâm nghiệp nhà nước.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện công tác cắm mốc ranh giới ba loại rừng: UBND thành phố Cẩm Phả phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiến hành rà soát thực địa và hoàn thành cắm mốc mốc giới ổn định cho 100% diện tích 4.402,09 ha rừng phòng hộ trước năm 2018, phấn đấu giảm 80% tình trạng lấn chiếm và tranh chấp đất lâm nghiệp giáp ranh các khai trường than.

Thứ hai, đẩy nhanh tiến độ giao đất, giao rừng gắn với cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Phòng Tài nguyên và Môi trường phối hợp cùng UBND 16 phường, xã đẩy nhanh quy trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp, hướng tới mục tiêu hoàn thành cấp giấy cho trên 90% diện tích rừng sản xuất của các hộ gia đình tại 5 xã trọng điểm trước năm 2020.

Thứ ba, hiện đại hóa công nghệ giám sát tài nguyên và cảnh báo cháy rừng: Hạt Kiểm lâm thành phố Cẩm Phả cần áp dụng hệ thống thông tin địa lý GIS kết hợp phần mềm viễn thám giải đoán ảnh vệ tinh để theo dõi biến động diện tích rừng hàng quý, bảo đảm phát hiện sớm các vụ cháy rừng và giảm thiểu 50% thiệt hại do cháy rừng gây ra trong giai đoạn 2016 - 2020.

Thứ tư, chuẩn hóa và nâng cao năng lực bộ máy cán bộ lâm nghiệp cơ sở: UBND thành phố Cẩm Phả tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ thanh tra, quản trị lâm nghiệp cho 100% cán bộ phụ trách nông lâm nghiệp tại 16 xã, phường, nâng tỷ lệ cán bộ cơ sở đạt trình độ đại học chuyên ngành lên 85% trước năm 2019.

Thứ năm, phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững và thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng: Phòng Kinh tế thành phố xây dựng cơ chế khuyến khích trồng rừng gỗ lớn, phát triển thêm 50 mô hình trang trại nông lâm kết hợp, duy trì diện tích trồng mới hàng năm trên 1.600 ha và nâng sản lượng gỗ khai thác hợp pháp đạt mức 50.000 m3/năm vào năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cán bộ lãnh đạo và chuyên viên quản lý nhà nước: Các cơ quan quản lý thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm và Phòng Tài nguyên và Môi trường có thể ứng dụng cơ sở dữ liệu về 24.586,39 ha đất lâm nghiệp để làm tài liệu định hướng xây dựng quy hoạch sử dụng đất và kiểm soát xung đột tài nguyên giữa ngành than và lâm nghiệp.

Nhóm doanh nghiệp công nghiệp và khai thác khoáng sản: Lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, Nhà máy Nhiệt điện Cẩm Phả và Nhà máy Xi măng Cẩm Phả có thể tham khảo để xây dựng phương án hoàn nguyên môi trường bãi thải mỏ và thực hiện đúng trách nhiệm trồng rừng thay thế.

Nhóm giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu: Các nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý tài nguyên, Quản lý kinh tế và Lâm nghiệp đô thị có thể sử dụng khung phân tích thực chứng tại 16 đơn vị hành chính của Cẩm Phả làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu về quản lý tài nguyên bền vững trong bối cảnh công nghiệp hóa.

Nhóm chủ rừng, hợp tác xã và hộ gia đình nhận khoán đất rừng: Người dân và chủ trang trại tại các địa phương có thể nắm bắt đầy đủ các chính sách hưởng lợi từ Nghị định số 99/2010/NĐ-CP và Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg, giúp tiếp cận vốn vay ưu đãi và tối ưu hóa hiệu quả kinh tế từ mô hình trồng rừng keo thương phẩm.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ che phủ rừng tại thành phố Cẩm Phả đạt bao nhiêu phần trăm? Theo số liệu thống kê năm 2014, tỷ lệ che phủ rừng tại thành phố Cẩm Phả đạt 54,0% trên tổng diện tích đất lâm nghiệp 24.586,39 ha, trong đó diện tích rừng sản xuất chiếm tỷ trọng chủ đạo với 20.184,3 ha.

Nguyên nhân chính gây suy giảm chất lượng rừng tại Cẩm Phả là gì? Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ áp lực khai thác than hàng năm đạt 25 - 30 triệu tấn, tình trạng san gạt mặt bằng trái phép của các dự án công nghiệp và nguy cơ cháy rừng cao trong điều kiện độ ẩm biến động mạnh.

Trình độ chuyên môn của đội ngũ kiểm lâm tại Cẩm Phả hiện nay ra sao? Hạt Kiểm lâm thành phố Cẩm Phả có 16 cán bộ biên chế, trong đó có 12 cán bộ đạt trình độ đại học (chiếm 75%) và 2 cán bộ đạt trình độ cao đẳng, đáp ứng tốt yêu cầu quản lý kỹ thuật trên 16 phường, xã.

Giá trị kinh tế từ khai thác rừng tại địa phương mang lại những kết quả gì? Hàng năm thành phố khai thác khoảng 40.000 m3 gỗ rừng trồng, tạo việc làm cho 6% lao động địa phương và duy trì hoạt động hiệu quả của 193 trang trại lâm nghiệp với doanh thu bình quân 100 triệu đồng/năm.

Giải pháp công nghệ nào được ưu tiên áp dụng trong quản lý rừng tại Cẩm Phả? Luận văn đề xuất tích hợp phần mềm cảnh báo cháy sớm qua ảnh vệ tinh viễn thám và hệ thống thông tin địa lý GIS nhằm giám sát diễn biến rừng định kỳ, giúp khoanh vùng chính xác các điểm nóng cháy rừng trên địa bàn.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận và khung pháp lý về quản lý nhà nước đối với tài nguyên rừng tại đô thị công nghiệp khai khoáng.
  • Phản ánh trung thực thực trạng 24.586,39 ha đất lâm nghiệp và tỷ lệ che phủ 54,0% trên địa bàn thành phố Cẩm Phả giai đoạn 2010 - 2014.
  • Nhận diện chính xác các điểm nghẽn trong công tác phân cấp quản lý, cắm mốc ranh giới và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng.
  • Đề xuất 5 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp ứng dụng công nghệ viễn thám GIS với lộ trình thực hiện cụ thể đến năm 2020.
  • Định hướng phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững với mục tiêu khai thác trên 50.000 m3 gỗ/năm đi đôi với hoàn nguyên môi trường sinh thái.

Luận văn là tài liệu khoa học có giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho công tác quản trị tài nguyên rừng tại các địa bàn công nghiệp. Quý độc giả, nhà quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể tiếp cận toàn văn luận văn thạc sĩ để khai thác chi tiết hệ thống bảng biểu, ma trận số liệu và giải pháp chuyên sâu.