Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN RỪNG Ở VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM RỪNG VÀ TÀI NGUYÊN RỪNG 1. Khái niệm rừng Rừng không chỉ có ý nghĩa với sự phát triển của đất nước mà còn có ý nghĩa thiết thực với đời sống con người. Pháp luật về bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam hiện nay mà cụ thể là Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 tại Điều 3 khoản 2 đã định nghĩa như sau: Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa, thực vật hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên.
Rừng gồm: rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng [31]. Như vậy theo quy định mà pháp luật Việt Nam hiện hành đã đưa ra thì khái niệm rừng được biết đến một cách khái quát gồm có rừng trồng và rừng tự nhiên. Trong quy định này, khái niệm rừng được biết đến với đầy đủ các thành phần hệ sinh thái rừng một cách đa dạng và phong phú gồm cả thực vật, động vật, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác. Tuy nhiên, cây gỗ, tre nứa, thực vật hoặc hệ thực vật đặc trưng phải thỏa mãn điều kiện về độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên.
Để có thể hiểu cặn kẽ hơn cho khái niệm về rừng trong Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 thì Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số 34/2009/TT-BNNPTNT ngày 10/6/2009 quy định về tiêu chí xác định rừng và phân loại rừng. Cụ thể, tại Điều 3 của Thông tư này đã nêu rõ, một đối tượng được xác định là rừng nếu đạt được cả 3 tiêu chí sau: 14 Tiêu chí thứ nhất: Là một hệ sinh thái, trong đó thành phần chính là các loài cây lâu năm thân gỗ, cau dừa có chiều cao vút ngọn từ 5,0 mét trở lên (trừ rừng mới trồng và một số loài cây rừng ngập mặn ven biển), tre nứa,…có khả năng cung cấp gỗ, lâm sản ngoài gỗ và các giá trị trực tiếp và gián tiếp khác như bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và cảnh quan. Rừng mới trồng các loài cây thân gỗ và rừng mới tái sinh sau khai thác rừng trồng có chiều cao trung bình trên 1,5m đối với loài cây sinh trưởng chậm, trên 3,0m đối với loài cây sinh trưởng nhanh và mật độ 1.000cây/ha trở lên được coi là rừng. Các hệ sinh thái nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản có rải rác một số cây lâu năm là cây thân gỗ, tre nứa, cau dừa…không được coi là rừng [5].
Với tiêu chí này thì đã quy định cụ thể với các loài cây thân gỗ, cau dừa, tre nứa…thì chiều cao phải đảm bảo từ 5,0 mét trở lên, rừng cây thân gỗ, rừng tái sinh phải đảm bảo chiều cao trung bình trên 1,5m với cây sinh trưởng chậm và 3,0m đối với loài cây sinh trưởng nhanh và các loài cây này phải mang lại giá trị trực tiếp và gián tiếp về vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường cảnh quan thì thỏa mãn tiêu chí thứ nhất để xác định là rừng. Tiêu chí thứ hai: Độ tàn che của tán cây rừng là thành phần chính của rừng phải từ 0,1 trở lên[5]. Với tiêu chí thứ hai này để xác định một đối tượng là rừng được hiểu, cây rừng là thành phần chính của rừng phải có mức độ che kín đảm bảo độ che phủ theo quy định Tại khoản 2 Điều 3 Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 "Độ che phủ của tán rừng được xác định là mức độ che kín của tán cây rừng đối với đất rừng, được biểu thị bằng tỷ lệ phần mười giữa diện tích đất rừng bị tán cây rừng che bóng và diện tích đất rừng" [31]. Phải đảm bảo được quy định về độ tàn che thì thỏa mãn tiêu chí thứ hai để xác định rừng.
Tiêu chí thứ ba: Diện tích liền khoảnh tối thiểu từ 0,5ha trở lên, nếu là dải cây rừng phải có chiều rộng tối thiểu 20 mét và có từ 3 hàng cây trở lên. Cây rừng trên các diện tích tập trung dưới 0,5ha hoặc dải rừng hẹp dưới 20 mét 15 được gọi là cây phân tán[5]. Với tiêu chí thứ ba này thì một đối tượng được xác định là rừng ngoài vấn đề phải thỏa mãn hai yếu tố về độ cao của cây, độ tàn che của cây rừng thì phải thỏa mãn điều kiện về diện tích đất rừng. Khái niệm tài nguyên rừng Để có thể hiểu sâu khái niệm tài nguyên rừng trước tiên phải hiểu khái niệm về tài nguyên "Tài nguyên là tất cả các dạng vật chất, tri thức được sử dụng để tạo ra của cải vật chất, hoặc tạo ra giá trị sử dụng mới của con người.
Phân theo quan hệ với con người thì tài nguyên được chia thành hai loại là tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên xã hội" [55]. Tài nguyên thiên nhiên là nguồn của cải vật chất nguyên khai được hình thành và tồn tại trong tự nhiên mà con người có thể khai thác, chế biến và sử dụng. Tài nguyên thiên nhiên là toàn bộ giá trị vật chất sẵn có trong tự nhiên là những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của xã hội loài người. Các loại tài nguyên thiên nhiên được phân thành hai loại: Tài nguyên tái tạo là tài nguyên có thể tự duy trì hoặc tự bổ sung một cách liên tục khi được quản lý một cách hợp lý và tài nguyên không tái tạo là loại tài nguyên tồn tại hữu hạn, sẽ mất đi hoặc biến đổi sau quá trình sử dụng [64].
"Tài nguyên rừng là một phần của tài nguyên thiên nhiên, thuộc loại tài nguyên tái tạo được. Nhưng nếu sử dụng không hợp lý, tài nguyên rừng có thể bị suy thoái không thể tái tạo lại" [57]. Rừng theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 quy định "rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa, thực vật hoặc hệ thực vật đặc trưng …" [31]. Tài nguyên rừng có vai trò rất quan trọng đối với khí quyển, đất đai, mùa màng, cung cấp các nguồn gen động thực vật quý hiếm cùng nhiều lợi ích khác.
Rừng giúp điều hòa nhiệt độ, nguồn nước 16 và không khí. Con người có thể sử dụng tài nguyên thiên nhiên này để khai thác, sử dụng hoặc chế biến ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu đời sống. Ở những vùng khí hậu khác nhau thì tài nguyên rừng cũng khác nhau [57]. Thông qua khái niệm về rừng có thể thấy tài nguyên rừng gồm: Thực vật rừng trước hết phải kể đến những loài cây thân gỗ đây là một loại tài nguyên chính mà rừng cung cấp phục vụ cho đời sống con người.
Sơ bộ thống kê hiện nay trên thế giới có khoảng trên 100 ngành dùng gỗ làm nguyên, vật liệu với trên 22.000 công việc khác nhau và sản xuất ra hơn 20.000 loại sản phẩm. Gỗ là nguyên liệu, vật liệu được con người sử dụng lâu đời và rộng rãi, là một trong những vật tư chủ yếu của nền kinh tế quốc dân. Gỗ được sử dụng rất rộng rãi trong công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, kiến trúc, xây dựng, khai khoáng. Ngoài ra gỗ còn được dùng làm văn phòng phẩm, nhạc cụ, dụng cụ thể dục thể thao, đóng toa tầu, thùng xe, thuyền, phà, cầu cống, bàn ghế và dụng cụ học sinh, đồ dùng gia đình, công sở và chuyên dùng như bệnh viện, thư viện.
Ngoài ra, các loài cây thân gỗ còn là nhân tố quan trọng trong việc bảo vệ đất, bảo vệ nước và điều hòa khí hậu, lưu lượng nước. Ngoài gỗ rừng còn cung cấp một lượng lớn các sản phẩm từ cây rừng được con người sử dụng làm củi, than gỗ, thực hiện du lịch giải trí…mang lại nguồn lợi nhuận lớn. Động vật rừng và các loài sinh vật hoang dại và các loại cây thuộc quần thể sinh học từ rừng được con người sử dụng để lai tạo, cung cấp nguồn gen quý, cải tiến các giống cây trồng, vật nuôi cho có khả năng chống lại dịch bệnh, thời tiết khắc nghiệt cho năng suất cao, chất lượng tốt. Thêm vào đó một lượng thực phẩm, dược phẩm lớn được cung cấp từ nguồn thực vật và động vật hoang dã rừng.
Đồng thời tài nguyên rừng còn là những diện tích đất màu mỡ, một trữ lượng nước lớn đảm bảo cho cây rừng, động vật rừng sinh sống 17 phát triển tạo nguồn cung cấp phục vụ con người. Ngoài ra rừng cung cấp nguồn ôxy dồi dào, chống xói mòn, giảm ô nhiễm, hạn chế thiên tai, cân bằng khí hậu…Như vậy nguồn tài nguyên rừng có giá trị rất lớn đối với đời sống con người, vấn đề đặt ra là phải bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên này. PHÂN LOẠI RỪNG 1. Phân loại rừng căn cứ vào mục đích sử dụng Thứ nhất là rừng phòng hộ: Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 quy định "Rừng phòng hộ được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường" [31].
Rừng phòng hộ đầu nguồn là nơi phát sinh hoặc bắt đầu nguồn nước tạo thành các dòng chảy cấp nước cho các hồ chứa trong mùa khô, hạn chế lũ lụt, chống xói mòn và bảo vệ đất. Rừng phòng hộ gồm những rừng có sẵn trong tự nhiên, chủ yếu là rừng hỗn giao gồm nhiều tầng, không đều tuổi, mật độ dày, có dễ sâu, bền, chắc; rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay là rừng phòng hộ ven biển được thành lập với mục đích chống gió hạn, cát bay, ngăn chặn sự xâm mặn của biển; rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển là rừng phòng hộ ven biển được thành lập với mục đích chống sóng lấn biển, chống sạt lở, bảo vệ các công trình ven biển; rừng phòng hộ bảo vệ môi trường nhằm mục đích điều hòa khí hậu, chống ô nhiễm môi trường trong các khu dân cư, khu đô thị và khu du lịch [58].