CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN VẺ NÂNG CAO HIỆU QUA SAN XUẤT KINH DOANH CUA CÔNG TY LON GIONG 1.1: CO SỞ LY LUẬN VE NANG CAO HIEU QUA SAN XUAT KINH DOANH 1.1: Cac khai niém co ban 1.1: Hiệu qua Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả ma con người chờ đợi va hướng tới; nó có nội dung khác nhau ở những lĩnh vực khác nhau mà người ta nghiên cứu. Nhà kinh tế học người Anh, Adam Smith, cho rang: "Hiéu quả là kết qua đạt được trong hoạt động kinh tế, doanh thu tiêu thụ hàng hoá. Theo quan điểm này của Adam Smith đã đồng nhất hiệu quả với chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh. Hạn chế của quan điểm này là kết quả sản xuất kinh doanh có thé tăng lên do chi phi sản xuất tăng hay do mở rộng sử dụng các nguồn lực sản xuất.
Quan điểm này chỉ đúng khi kết quả sản xuất kinh doanh tăng với tốc độ nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí đầu vào của sản xuất. Nghĩa là Adam Smith mới chỉ quan tâm đến kết quả đầu ra mà không chú ý đến những vấn đề khác. Về hình thức, hiệu quả và kết quả khác nhau ở kết quả thê hiện chất lượng, quy mô, là giá trị mà doanh nghiệp đạt được qua mỗi chu kỳ hoạt động, có kết quả mới biết đến hiệu quả. Hiệu quả và kết quả có mỗi liên hệ chặt chẽ với nhau nhưng lại có nội hàm khác nhau.
Có thể nói, kết qua là mục tiêu của hoạt động sản xuất kinh doanh, mà hiệu quả là phương tiện để đạt mục tiêu ấy. Samuelson cho rằng: “Hiệu quả tức là sử dụng một cách hiệu quả nhất các nhuon lực của nên kinh tế để thoản mãn nhu cau mong muốn của con người.” Theo quan điểm này, tác giả cho rằng hiệu quả thông qua cách sử dụng các yếu tố đầu vào, các yếu tô này phải được sử dụng dé đem lại kết quả mong muốn cho con TIBƯỜI. Trong cuốn Từ điền kinh tế học, tác giả Nguyễn Văn Ngọc có viết: “Hiệu quả là moi quan hệ giữa các dau vào nhân tổ khan hiếm và sản lượng hàng hoá và dịch vụ. Moi quan hệ này có thể tính bằng hiện vật (hiệu quả kỹ thuật) hoặc giá trị (hiệu quả kinh tê).
Khái niệm hiệu quả còn được dùng làm tiêu chuẩn dé đánh giá xem thị trường phân bồ nguồn lực tốt đến mức nào. Khái niệm này cho phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, thiết bị máy móc, nguyên nhiên vật liệu và tiền vốn) và các yếu tố thị trường (giá sản phẩm, chất lượng sản phẩm) dé đạt được mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp — mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Từ các quan điêm niệm trên có thé cho răng: Hiệu quả là phạm trù khoa hoc phản ánh trình độ sử dụng các điêu kiện chính trị, xã hội và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất dé đạt được kết quả cao nhất với lượng chi phí thấp nhất. Hiệu quả = Kết quả dau ra/ Nguồn lực dau vào 1.2: Sản xuất kinh doanh Tất cả các doanh nghiệp, các đơn vi sản xuất kinh doanh hoạt động trong nên kinh tế thị trường dù là hình thức sở hữu nào ( Doanh nghiệp Nhà Nước, Doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, công ty cô phan, công ty trách nhiệm hữu hạn.
) thì đều có các mục tiêu hoạt động sản xuất khác nhau. Ngay trong mỗi giai đoạn, các doanh nghiệp cũng theo đuôi các mục tiêu khác nhau, nhưng nhìn chung mọi doanh nghiệp trong cơ chế thị trường đều nhằm mục tiêu lâu dài, mục tiêu bao trùm đó là làm sao tối đa hoá lợi nhuận. Đề đạt được các mục tiêu đó thì các doanh nghiệp phải xây dựng được cho mình một chiến lược kinh doanh đúng đắn, xây dựng các kế hoạch thực hiện và đặt ra các mục tiêu chỉ tiết nhưng phải phù hợp với thực tế, đồng thời phù hợp với tiềm năng của doanh nghiệp và lẫy đó làm cơ sở để huy động và sử dụng các nguồn lực sau đó tiễn hành các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Trong điều kiện nền sản xuất kinh doanh chưa phát triển, thông tin cho quản lý chưa nhiều, chưa phức tạp thì hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ là quá trình sản xuất các sản phẩm thiết yêu cho nhu cầu cua xã hội sau đó là sự lưu thông trao đôi kinh doanh các mặt hàng do các doanh nghiệp sản xuất ra.
Khi nền kinh tế càng phát triển, những đòi hỏi về quản lý nền kinh tế quốc dân không ngừng tăng lên. Quá trình đó hoàn toàn phù hợp với yêu cầu khách quan của sự phát triển. Mác đã ghi rõ: “ Nếu một hình thái vận động là do một hình thái khác vận động khác phát triển lên thì những phan anh của nó, tức là những ngành khoa học khác nhau cũng phải từ một ngành này phát triển ra thành một ngành khác một cách tất yếu”. Sự phân công lao động xã hội, chuyên môn hoá sản xuất đã làm tăng thêm lực lượng sản xuất xã hội, nảy sinh nền sản xuất hàng hóa.
Quá trình sản xuất bao gồm: sản xuất, phân phối, trao đồi và tiêu dùng. Chuyên môn hoá đã tạo sự cần thiết phải trao đổi sản phẩm giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Sự trao đổi này bắt đầu với tính chất ngẫu nhiên, hiện vật, dần dần phát triển mở rộng cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hoá, khi tiền tệ ra đời làm cho quá trình trao đổi sản phẩm mang hình thái mới là lưu thông hàng hoá với các hoạt động mua và bán và đây là những hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Nhu vậy, hoạt động sản xuât kinh doanh được hiệu như là quá trình tiên hành các công đoạn từ việc khai thác sử dụng các nguồn lực sẵn có trong nên kinh tế dé sản xuât ra các sản phâm hang hoá, dịch vụ nhăm cung cap cho nhu câu thị trường va thu được lợi nhuận.3: Hiệu quả sản xuất kinh doanh Hiệu quả SXKD của DN là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ sử dụng các yếu tô của quá trình sản xuất.
Hiệu quả SXKD còn thé hiện sự vận dụng khéo léo của các nhà quản trị doanh nghiệp giữa lý luận và thực tế nhằm khai thác tối đa các yêu tố của quá trình sản xuất như máy móc thiết bi, NVL, nhân công dé nâng cao lợi nhuận. Vay hiệu quả sản xuất kinh doanh là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp nhằm phản ánh trình độ sử dụng các nguôn lực, tài chính của doanh nghiệp để đạt hiệu quả cao nhát. Mặt khác, hiệu quả SXKD còn là chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN, góp phần tăng thêm sức cạnh tranh cho các DN trên thị trường. Khi phân tích hiệu quả kinh doanh các chỉ tiêu cần được xem xét gắn liền với khôgn gian, thời gian và môi trường của các chỉ tiêu nghiên cứu.
mặt khác, hiệu quả SXKD của DN còn đặt trong mối quan hệ với hiệu quả xã hội và trách nhiệm bảo vệ môi trường vả nguôn tải nguyên của đât nước. Bât kỳ một hoạt động nào của mọi tô chức đêu mong muôn đạt hiệu quả cao nhất trên mọi phương diện kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường. Hoạt động SXKD trong cơ chế thị trường yêu cầu hiệu quả càng đòi hỏi cấp bách vì nó là động lực thúc đây các doanh nghiệp cạnh tranh và phát triển. Hiệu quả SXKD của các DN chủ yếu xét trên phương diện kinh tê có quan hệ với hiệu quả xã hội và môi trường.
Thực chất của hiệu quả kinh doanh là sự so sánh giữa các kết quả đầu ra với các yếu tố đầu vào của một tổ chức kinh tế được xét trong một kỳ nhất định, tuỳ theo yêu cầu của các nhà quản trị kinh doanh. Các chỉ tiêu tài chính phản ánh hiệu quả SXKD là cơ sở khoa học để đánh giá trình độ của các nhà quản lý, căn cứ đưa ra quyết định trong tương lai.3: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Điều kiện đủ cho sự lựa chọn kinh tế là cùng với sự phát triển kỹ thuật sản xuất thì càng ngày người ta càng tìm ra nhiều phương pháp khác nhau dé chế tạo sản phẩm. Kỹ thuật sản xuất cho phép với cùng những nguồn lực đầu vào nhất định người ta có thé tạo ra rất nhiều loại sản phẩm khác nhau. Điều nay cho phép các doanh nghiệp có khả năng lựa chọn kinh tế: lựa chọn sản xuất kinh doanh sản phâm (cơ cấu sản phẩm) tối ưu.
Sự lựa chọn đúng đắn sẽ mang lại cho doanh nghiệp hiệu quả kinh doanh cao nhất, thu được nhiều lợi ích nhất. Giai đoạn kinh tế phát triển theo chiều rộng kết thúc và nhường chỗ cho sựu phát triérn theo chiều sâu: sự tăng trưởng kết quả kinh tế của sản xuất chủ yếu nhờ vào việc cải tiến các yếu tô sản xuất về mặt chất lượng, ứng dụng các tiễn bộ khoa học kỹ thuật mới, công nghệ mới, hoan thiện công tác quản tri và cơ cau kinh tế,. nâng cao chất lượng các hoạt động kinh tế. Nói một cách khái quát là nhờ vào sự nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Như vậy nâng cao hiệu quả kinh doanh tức là nâng cao khả năng sử dụng các nguôn lực có hạn trong sản xuất, dat được sự lựa chọn tôi ưu. Trong điêu kiện khan hiêm các nguôn lực san xuât thì nâng cao hiệu quả sản xuât kinh doanh là không thé không đặt ra đối với bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào. Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là chìa khoá nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường sẽ có những lợi thế cạnh tranh khác biệt ngay trong nội bộ ngành cũng như ngoài ngành.
Do vậy, phải nâng cao hoạt động sản xuất kinh doanh mới giúp giảm bớt giá thành, nâng cao hiệu quả đầu tư, nâng cao chất lượng hàng hoá,. mới góp phần nâng cao được sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường và tìm kiếm các giải pháp nâng cao hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là một quy luật tự nhiên. Tối ưu hoá quá trình sử dụng các nguồn lực và từng yếu tố sản xuất sẽ quan sát thấy mối liên hệ giữa yếu tố sản xuất với hiệu quả hoạt động kinh doanh, sẽ xác định rõ những nguyên nhân nào đang gây cản trở hoặc ảnh hưởng việc khai thác năng lực sản xuất của doanh nghiệp.