Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và các cơ sở lý luận - Chương 2. Phương pháp và thiết kế nghiên cứu - Chương 3. Đánh giá năng lực cạnh tranh dịch vụ VNPT-CA của Công ty Điện toán và truyền số liệu (VDC) - Chương 4.
Tác động của tài chính đến năng lực cạnh tranh dịch vụ VNPT- CA của Công ty Điện toán và Truyền số liệu (VDC) - Chương 5. Giải pháp tài chính nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ VNPT- CA của Công ty Điện toán và Truyền số liệu (VDC) 3 z CHƢƠNG I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Có rất nhiều bài viết, chuyên đề nghiên cứu đã bàn luận đến vấn đề cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của một loại sản phẩm, dịch vụ nào đó, hoặc một công ty nhất định, hoặc mở rộng ra là năng lực cạnh tranh của một ngành, một quốc gia. Lồng trong các bài viết đánh giá về năng lực cạnh tranh, cũng có nhiều tác phẩm đã gợi ý cho công ty hoặc ngành những giải pháp khả quan nhất định về mặt tài chính đáng để chúng ta quan tâm.
Tổng quan các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh Có nhiều nghiên cứu trước đây đã tập trung vào việc đánh giá thực trạng, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của một đơn vị, một ngành, một lĩnh vực hoặc một nhóm dịch vụ cơ bản của quốc gia. Bài viết của tác giả Trần Thị Trương “Xung quanh vấn đề về lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp” (Nội san NCKH số 50 trường Cao đẳng TCKT) khẳng định rằng “Lợi thế cạnh tranh là một vấn đề rất quan trọng giúp doanh nghiệp ngày càng đứng vững và phát triển trên thị trường. Một doanh nghiệp được xem là có lợi thế cạnh tranh khi tỷ lệ lợi nhuận của nó cao hơn tỷ lệ bình quân ngành. Doanh nghiệp có một lợi thế cạnh tranh bền vững khi nó có thể duy trì tỷ lệ lợi nhuận cao trong một thời gian dài”.
Tác giả đã đưa ra một số lý luận về sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường khi gắn tỷ lệ lợi nhuận của doanh nghiệp với lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp đó. Với hướng suy nghĩ đó, một doanh nghiệp muốn có được lợi thế cạnh tranh thì có thể thực hiện theo hai cách thức. Một là tạo ra nhiều giá trị hơn cho khách hàng, làm cho khách hàng có được sự thỏa mãn vượt trên cả mong đợi của chính họ thông qua sự vượt trội về thiết kế, tính năng, chất lượng của sản phẩm. Hai là giảm chi phí để tạo ra lợi nhuận lớn hơn, hướng đến lợi thế cạnh tranh trong hiệu quả sử dụng vốn.
Tác giả nhận định rằng, để đạt được lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp cần tạo cho sản phẩm của mình bốn tính chất là hiệu 4 z quả, chất lượng, cải tiến và đáp ứng khách hàng. Hiệu quả chính là kết quả đạt được so với các chi phí đã bỏ ra. Trong số các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả, chỉ tiêu quan trọng nhất là năng suất lao động. Khi tất cả các yếu tố khác không đổi, doanh nghiệp có mức năng suất lao động cao nhất sẽ có lợi thế cạnh tranh chi phí thấp.
Chất lượng ảnh hưởng đến giá trị của sản phẩm trong mắt khách hàng, cũng được coi là điều bắt buộc phải có để tồn tại trong nhiều ngành. Chất lượng cao sẽ giảm chi phí bằng việc giảm thời gian lao động lãng phí cho việc sửa chữa hoặc thay thế sản phẩm lỗi. Cải tiến là bất kỳ những gì được coi là mới hay lạ trong cách thức mà một doanh nghiệp vận hành hay sản xuất sản phẩm của nó. Cải tiến tạo ra sự độc đáo, những thứ mà đối thủ cạnh tranh không có nên xét về mặt dài hạn, cải tiến liên tục sẽ là yếu tố quan trọng nhất của lợi thế cạnh tranh, là nguồn lực của lợi thế cạnh tranh.
Đáp ứng khách hàng là khả năng nhận diện và thỏa mãn nhu cầu khách hàng, giúp khách hàng cảm nhận giá trị sản phẩm. Đáp ứng khách hàng nằm ở các khía cạnh chất lượng, kịp thời, thiết kế vượt trội, hậu mãi và hỗ trợ. Tất cả tạo nên lợi thế cạnh tranh về sự khác biệt so với đối thủ. Đề tài khoa học cấp nhà nước VIE/02/009 “Năng lực cạnh tranh và tác động của tự do hóa thương mại ở Việt Nam – Trường hợp Ngành Viễn thông” (Đinh Văn Ân và cộng sự, Bộ Kế hoạch Đầu tư – Vụ thương mại Dịch vụ - 2006) đã thể hiện một số vấn đề tổng quan về thị trường viễn thông Việt Nam, phân tích các yếu tố về năng lực cạnh tranh chung của ngành viễn thông Việt Nam cũng như của các doanh nghiệp thương mại điện tử tại Việt Nam.
Theo tác giả, một lĩnh vực cụ thể của một nền kinh tế được coi là có năng lực cạnh tranh và hiệu quả nếu có sự cạnh tranh của bản thân các chủ thể thuộc nội bộ lĩnh vực đó, áp dụng vào khu vực viễn thông cũng như vậy. Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam được đánh giá dựa trên các kết quả về chỉ số tài chính, hỗ trợ của Chính phủ đối với các công ty viễn thông, chiến lược kinh doanh của các công ty, chất lượng cơ sở hạ tầng dịch vụ và số lượng việc làm, các điều kiện và tình hình gia nhập thị trường của các công ty viễn thông mới. Ngoài ra, tình hình tăng trưởng trong lĩnh vực viễn thông Việt Nam cũng phụ thuộc vào các khía cạnh về nguồn cung như tình hình các nhà 5 z cung ứng chính trên thị trường, cơ cấu thị trường viễn thông và các cải cách ở châu Á. Xét về tương quan với các ngành nghề kinh doanh trong nước, thị trường viễn thông là thị trường tăng trưởng vào loại nhanh nhất thế giới mặc dù Internet gia nhập thị trường khá muộn.
Xét về khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, viễn thông Việt Nam lại đi sau hàng loạt quốc gia khu vực Đông Á – Thái Bình Dương, chứ chưa tính đến việc cạnh tranh với các quốc gia Châu Âu, do cơ sở hạ tầng của ngành viễn thông Việt Nam thuộc loại thấp kém nhất khu vực, và mật độ phân bố bất hợp lý, nghiêng hẳn về các đô thị lớn. Khả năng cạnh tranh viễn thông quốc tế được nhận định dựa trên 3 yếu tố là môi trường vĩ mô cho công nghệ thông tin, mức độ chuẩn bị của các cá nhân, doanh nghiệp và chính phủ, mức độ sử dụng công nghệ thông tin. Áp vào các chỉ số này, ngành viễn thông Việt Nam bị xếp hạng ở mức thấp nhất khu vực. Tuy nhiên, bằng phương pháp phân tích SWOT, bài nghiên cứu khẳng định ngành viễn thông Việt Nam có nhiều cơ hội để nâng cao khả năng cạnh tranh với các quốc gia khác, với những cơ hội do tự do hóa thương mại đem lại.
Luận án tiến sỹ kinh tế năm 2012 của Trần Thị Anh Thư – Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương - “Tăng cường năng lực cạnh tranh của Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam trong điều kiện Việt Nam là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới” phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của VNPT khi Việt Nam đã tham gia vào WTO. Luận án sử dụng kết quả khảo sát và kết quả so sánh một số chỉ tiêu chính giữa tập đoàn VNPT và hai đối thủ cạnh tranh chính là Viettel và EVN Telecom. Các chỉ tiêu được đưa ra đánh giá chủ yếu là tiêu chí vi mô về năng lực tài chính, năng lực về quản lý điều hành, hình ảnh và mức độ nổi tiếng, trình độ trang thiết bị và công nghệ, năng lực marketing, cơ cấu tổ chức sản xuất, nguồn nhân lực, năng lực nghiên cứu và triển khai (R&D), năng lực hợp tác trong nước và quốc tế. Trong điều kiện là một thành viên thuộc WTO, VNPT chịu ảnh hưởng rất lớn của các yếu tố bên ngoài.
Đó là chính sách mở cửa thị trường của Đảng và Nhà nước như chính sách giá cước, chính sách hội nhập quốc tế, chính sách kết nối, nghĩa vụ đóng góp công ích. Bản luận án đã phân tích khá kỹ mô hình SWOT đối với các yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh của VNPT so với các đối thủ 6 z là những tập đoàn viễn thông lớn trong nước. Qua đó khẳng định VNPT đứng trong nhóm dẫn đầu các doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bưu chính viễn thông, nhưng lại tốc độ tăng cường năng lực cạnh tranh lại không bằng các doanh nghiệp khác do vấp phải các cơ chế chính sách của Chính phủ cũng như tư duy trì trệ lâu năm của những cán bộ làm việc trong khối doanh nghiệp nhà nước. Bài nghiên cứu “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn” của Hoàng Thị Phương Thanh (Tạp chí tài chính số 03/2014) tập trung đưa ra một số ý kiến về nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong một ngành nghề đặc thù là ngành kinh doanh khách sạn.
Từ những phân tích thực trạng cạnh tranh của một doanh nghiệp cụ thể trong ngành là khách sạn Hòn Ngư hoạt động tại Cửa Lò, Nghệ An, tác giả đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn nói chung và khách sạn Hòn Ngư nói riêng. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh mà tác giả dựa vào để phân tích là thị phần, tốc độ tăng trưởng thị phần, giá cả sản phẩm dịch vụ, chất lượng dịch vụ và danh tiếng thương hiệu. Ngoài ra còn có một số yếu tố khác phụ trợ trong quá trình phân tích năng lực cạnh tranh của các khách sạn tiêu điểm được lựa chọn để đánh giá là độ đa dạng của sản phẩm, năng lực tài chính, khả năng nắm bắt thông tin thị trường và trình độ lao động. Qua đánh giá vị thế của khách sạn trong ngành tại khu vực kinh doanh nội tỉnh, mở rộng ra các ảnh hưởng tác giả đã đề xuất bốn giải pháp đối với sự phát triển kinh doanh của khách sạn Hòn Ngư cũng như của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ này.
Thứ nhất, chú trọng tới chất lượng sản phẩm bằng cách hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp. Thứ hai, vận dụng chính sách giá linh hoạt với nhiều mức giá phân biệt cho các khối khách hàng khác nhau. Thứ ba, tăng cường các kênh phân phối, xúc tiến quảng cáo để thu hút nguồn khách hàng mới và duy trì nguồn khách hàng trung thành.