CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG 1. Cơ sở lý luận về quản lý môi trường 1. Khái niệm về môi trường và quản lý môi trường - Khái niệm môi trường Môi trường là một khái niệm rất rộng, được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Trong Tuyên ngôn của UNESCO năm 1981, môi trường được hiểu là "Toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thoả mãn các nhu cầu của con người".
Báo cáo toàn cầu năm 2000 (công bố năm 1982) định nghĩa "Môi trường là những vật thể vật lí và sinh học bao quanh loài người… Mối quan hệ giữa loài người và môi trường của nó chặt chẽ đến mức mà sự phân biệt giữa các cá thể con người với môi trường bị xoá nhoà đi". Tại Việt Nam, định nghĩa của Luật Bảo vệ Môi trường được chấp nhận rộng rãi và là căn cứ pháp lý trong quản lý môi trường. Theo đó, “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” [theo Điều 3, Luật Bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH13]. Tuy cách diễn đạt của các định nghĩa có khác nhau ít nhiều, nhưng đều thống nhất về thành phần và bản chất của môi trường: Môi trường bao gồm các nhân tố của tự nhiên như không khí, đất đai, nguồn nước, ánh sáng mặt trời, động thực vật, tài nguyên thiên nhiên… và các yếu tố vật chất nhân tạo làm nên những tiện nghi cho cuộc sống của con người như nhà cửa, đường xá, đê điều, hệ thống cấp thoát nước.
Các yếu tố tự nhiên và nhân tạo tồn tại đan xen vào nhau, bao quanh và có tác động đối với sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật. - Khái niệm quản lý môi trường Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp thích hợp,tác động và điều chỉnh các hoạt động của con người, với mục đích chính là giữ hài hòa quan hệ giữa môi trường và phát triển, giữa nhu cầu của con người và chất lượng môi trường, giữa hiện tại và khả năng chịu đựng của trái đất. Nói cách khác, quản lý môi trường là một lĩnh 7 vực quản lý xã hội, nhằm bảo vệ môi trường và các thành phần của môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm hướng tới phát triển bền vững. Theo Luật Bảo vệ Môi trường, “Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế - xã hội quốc gia” [theo Luật Bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH13].
Việc quản lý môi trường được thực hiện ở mọi quy mô: toàn cầu, khu vực, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ sở sản xuất, hộ gia đình,. - Mục tiêu của quản lý môi trường Mục tiêu của quản lý môi trường là PTBV, giữ cho được sự cân bằng giữa phát triển kinh tế xã hội và BVMT. Nói cách khác, phát triển kinh tế xã hội tạo ra tiềm lực kinh tế để BVMT, còn BVMT tạo ra các tiềm năng tự nhiên và xã hội mới cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội trong tương lai.Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, hệ thống pháp lý, mục tiêu phát triển ưu tiên của từng quốc gia mà mục tiêu quản lý môi trường có thể thay đổi theo thời gian và có những ưu tiên riêng đối với mỗi quốc gia. Theo Chỉ thị 36 CT/TW của Bộ Chính trị, Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, một số mục tiêu cụ thể của công tác quản lý môi trường Việt Nam hiện nay là: - Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinh trong các hoạt động của con người; - Hoàn chỉnh hệ thống văn bản luật pháp bảo vệ môi trường, ban hành các chính sách về phát triển kinh tế xã hội phải gắn với bảo vệ môi trường, nghiêm chỉnh thi hành luật bảo vệ môi trường; - Tăng cường công tác quản lý nhà nước về môi trường từ Trung ương đến địa phương, công tác nghiên cứu, đào tạo cán bộ về môi trường; - Phát triển đất nước theo các nguyên tắc phát triển bền vững được hội nghị Rio-92 thông qua (tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng; cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của con người; bảo vệ sức sống và tính đa dạng của trái đất; thay đổi thái độ, hành vi và xây dựng đạo đức mới vì sự phát triển bền vững; tạo điều kiện để cho các cộng đồng tự quản lý môi trường của mình; tạo ra một cơ cấu quốc gia thống nhất thuận lợi cho việc phát triển bền vững…); 8 - Xây dựng các công cụ quản lý môi trường thích hợp cho từng ngành, từng địa phương tùy thuộc vào trình độ phát triển; Hình thành và thực hiện đồng bộ các công cụ quản lý môi trường (luật pháp, kinh tế, kỹ thuật công nghệ, các chính sách xã hội,…).
Quản lý nhà nước về môi trường Quản lý Nhà nước về môi trường xác định rõ chủ thể là Nhà nước, bằng chức trách, nhiệm vụ và quyền hạn của mình bằng các công cụ luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế - xã hội quốc gia. Hệ thống quản lý nhà nước về môi trường ở nước ta bao gồm: - Chính phủ: Thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong phạm vi cả nước. - Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường: Chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường. Có trách nhiệm trủ trì xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch.
trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền… - Bộ trưởng, thủ trưởng cơ qua ngang Bộ: Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng, ban hành Thông tư, thông tư liên tịch về bản vệ môi trường trong lĩnh vực Bộ, nghành quản lý… - Ủy ban nhân dân các cấp: + Cấp tỉnh: Xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, kế hoạch về bảo vệ môi trường theo thẩm quyền; tổ chức thẩm định, phê duyệt quy hoạch bảo vệ môi trường; kiểm tra, thanh tra trong công tác bảo vệ môi trường… + Cấp huyện: Ban hành theo thẩm quyền các quy định, kế hoạch, chương trình bảo vệ môi trường; tổ chức thực hiện chiến lược, kế hoạch bảo vệ môi trường; tuyên truyền, phổ biến các chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường; kiểm tra, thanh tra xử lý các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường theo luật định… 9 + Cấp xã: Xây dựng kế hoạch, nhiệm vụ bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh môi trường trên địa bàn; vận động nhân dân xây dựng, bảo vệ môi trường; tuyên truyền bảo vệ môi trường tại cộng đồng khu dân cư, thôn, bản… 10 BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TỔNG CỤC MÔI TRƯỜNG CÁC ĐƠN VỊ THỰC HIỆN CÁC ĐƠN VỊ CƠ QUAN MÔI CHỨC NĂNG QLNN SỰ NGHIỆP TRƯỜNG ĐỊA PHƯƠNG Vụ Chính sách và Pháp Cục Bảo tồn đa Viện Khoa học môi Sở TN&MT tỉnh và chế dạng sinh học trường thành phố (Chi cục BVMT) Vụ Hợp tác quốc tế và KH,CN Cục Kiểm soát ô Trung tâm Quan trắc nhiễm Môi trường Vụ Kế hoạch – Tài chính Phòng TN&MT huyện Cục Thẩm định và Trung tâm Đào tạo Đánh giá TĐMT và Truyền thông MT Vụ Tổ chức cán bộ Trung tâm Thông tin Cục Kiểm soát hoạt và Tư liệu MT động bảo vệ môi Công chức TN&MT xã Văn phòng trường Trung tâm Tư vấn và Công nghệ MT Cục Môi trường miền Nam Tạp chí Môi trường Cục Môi trường miền Trung và Tây nguyên Cục Quản lý chất thải và Cải thiện môi trường Chi cục Bảo vệ môi trường Chi cục Bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông lưu vực sông Cầu Đáy 11 Hình 1.1: Hệ thống quản lý nhà nước về môi trường ở Việt Nam Quản lý nhà nước về môi trường ở cấp huyện là một cấu phần rất quan trọng trong hệ thống quản lý nhà nước về môi trường ở nước ta. Vì tình trạng ô nhiễm môi trường thường xẩy ra ở địa phương, địa bàn nơi cấp huyện quản lý. Cấp huyện có xây dựng các chính sách, chương trình, kế hoạch, tuyên truyền bảo vệ môi trường phù hợp với địa phương thì quản lý môi trường ở tại địa phương mới tốt. Các nguyên tắc Quản lý môi trường Đối với nước ta để quản lý Nhà nước về môi trường cần dựa vào những nguyên tắc sau đây: - Bảo đảm tính hệ thống: Nguyên tắc này xuất phát từ bản chất hệ thống của đối tượng quản lý môi trường cần được hiểu như là một hệ thống động phức tạp, bao gồm nhiều phần tử hợp thành.
Nhiệm vụ của quản lý môi trường là trên cơ sở thu nhập, tổng hợp và xử lý thông tin về trạng thái hoạt động của đối tượng quản lý (hệ thống môi trường) đưa ra các quyết định quản lý phù hợp, thúc đẩy các phần tử cấu thành hoạt động đều đặn, hướng tới mục tiêu đã định. - Bảo đảm tính tổng hợp: Các hoạt động thực tế thường thường diễn ra dưới nhiều hình thức đa dạng (sản xuất, tiêu thụ, thương mại, dịch vụ, hoạt động đầu tư, sinh hoạt vật chất và tinh thần của các cộng đồng, v. Dù dưới hình thức nào, qui mô và tốc độ hoạt động trực tiếp hay gián tiếp, đều tác động tổng hợp lên đối tượng quản lý (hệ thống môi trường). Vì thế, trong khi hoạch định chính sách và đề ra các quyết định quản lý môi trường cần phải tính đến tác động tổng hợp và hậu quả của chúng.
- Bảo đảm tính liên tục và nhất quán: Môi trường là một hệ thống liên tục, tồn tại, hoạt động và phát triển thông qua chu trình trao đổi vật chất, năng lượng trong không gian và thời gian. Có thể nói, hoạt động của hệ thống môi trường không phân ranh giới theo thời gian và không gian. Đặc tính này quy định tính nhất quán và tính 12 liên tục của tác động quản lý lên môi trường, đòi hỏi không ngừng nâng cao năng lực dự đoán và xử lý tổng hợp bền bỉ của các cơ quan quản lý Nhà nước. - Bảo đảm tập trung dân chủ: Quản lý môi trường được thực hiện nhiều cấp khác nhau.