Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Cơ sở lý luận về phát triển bền vững 1. Khái niệm về phát triển bền vững * Khái niệm phát triển Khái niệm phát triển bền vững được xuất phát điểm từ nền tảng của khái niệm phát triển.
Phát triển trước hết được các nhà kinh tế học định nghĩa là “tăng trưởng kinh tế” song nội hàm của nó từ lâu đã vượt khỏi phạm vi này. Có thể khái quát cách tiếp cận khái niệm phát triển theo có khía cạnh sau: Theo từ điển tiếng Việt, “phát triển” được xem là quá trình vận động, tiến triển theo hướng tăng lên. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam thì “phát triển là phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trên thế giới. Phát triển là một thuộc tính của vật chất.
Mọi sự vật và hiện tượng của hiện thực không tồn tại trong trạng thái khác nhau từ khi xuất hiện đến lúc tiêu vong,. nguồn gốc của phát triển là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập”. Tiếp cận sâu sắc hơn của phát triển là phát triển kinh tế. Khái niệm này được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế.
Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất; nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề về kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia. [10] Theo cách hiểu như vậy, phát triển kinh tế có những nội dung được khái quát theo ba khía cạnh sau: Thứ nhất, sự gia tăng tổng lượng của cải trong mỗi nền kinh tế, theo đó, thu nhập bình quân trên một đầu người ngày càng được cải thiện. Đây là khía cạnh thể hiện quá trình biến đổi về lượng của nền kinh tế, là điều kiện cần để nâng cao mức sống vật chất của một quốc gia và thực hiện những mục tiêu khác của phát triển. 6 Thứ hai, sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng gia tăng đóng góp của ngành công nghiệp chế tạo và dịch vụ.
Đây là tiêu thức phản ánh sự biến đổi về chất kinh tế của một quốc gia. Thứ ba, sự thay đổi tích cực không ngừng trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Mục tiêu cuối cùng của sự phát triển kinh tế trong các quốc gia không phải là tăng trưởng hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế, việc đảm bảo an sinh xã hôi, giải quyết các vấn đề về xã hội và môi trường. Có thể kể đến như việc xoá đói giảm nghèo, suy dinh dưỡng, sự tăng lên của tuổi thọ bình quân, khả năng tiếp cận đến các dịch vụ y tế, nước sạch, trình độ dân trí giáo dục, các vấn đề về môi trường được đẩy lùi,.
Hoàn thiện các tiêu chí trên là sự thay đổi về chất xã hội của quá trình phát triển. * Khái niệm về phát triển bền vững Khái niệm “phát triển bền vững” lần đầu tiên được sử dụng trong chiến lược bảo tồn thế giới do Hiệp hội Bảo toàn thiên nhiên quốc tế, Quỹ Động vật hoang dã thế giới và Chương trình môi trường Liên hiệp quốc đề xuất vào đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX. Tuy nhiên, sau khi ủy ban thế giới về Môi trường và Phát triển do bà G. Brundtland làm Chủ tịch sử dụng trong Báo cáo phúc trình mang tựa đề “Tương lai chung của chúng ta” (thường được gọi là Báo cáo Brundtland) thì khái niệm này chính thức được phổ biến rộng rãi trên thế giới từ năm 1987 [3].
Từ đó, khái niệm “phát triển bền vững” đã trở thành cơ sở để từng quốc gia xây dựng quan điểm, định hướng, giải pháp tháo gỡ những khó khăn, bế tắc trong các vấn đề phát triển. Hai hội nghị quan trọng được Liên hiệp quốc tổ chức là Hội nghị Thượng đỉnh về Trái đất diễn ra năm 1992 tại Rio de Janeiro (Brazin) và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững diễn ra vào năm 2002 tại Johannesburg (Nam Phi) là sự triển khai thực hiện sau khi có Báo cáo Brundtland. Theo đó, phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn những nhu cầu của hiện tại nhưng không gây ảnh hưởng hay phương hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. 7 Khái niệm “phát triển bền vững” được biết đến ở Việt Nam, triển khai nghiên cứu lý luận bởi các nhà khoa học vào khoảng cuối thập kỷ 80 - đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX.
Cùng với các nước trên thế giới, phát triển bền vững đã trở thành nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình xây dựng, phát triển đất nước ta theo xu hướng CNH, HĐH. Bộ Chính trị nhấn mạnh: “Bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối. chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước” tại Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25-6-1998 về việc tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước. Cùng với đó, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 là: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng về phát triển bền vững.
Đây là lần đầu tiên trục tam giác tăng trưởng kinh tế - thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội - bảo vệ môi trường với tư cách là những thành tố nằm trong mối liên hệ gắn kết chặt chẽ với nhau tạo nên sự phát triển bền vững được Đảng ta đề cập một cách cụ thể, rõ ràng và trở thành quan điểm chính thức của Đảng. Đây là cơ sở lý luận để ngày 17-8-2004 Chính phủ ban hành “Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam”. Nếu trong văn kiện Đại hội IX và X, Đảng ta chủ yếu đưa ra những quan điểm có tính chất định hướng cho sự phát triển bền vững đất nước thì tại Đại hội XI, quan điểm phát triển bền vững được thể hiện tập trung, xuyên suốt trong văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng, từ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 cho đến Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng; biểu hiện trên hầu hết các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường. Giữa phát triển nhanh và phát triển bền vững có mối quan hệ mật thiết 8 với nhau: “Phát triển bền vững là cơ sở để phát triển nhanh, phát triển nhanh để tạo nguồn lực cho phát triển bền vững.
Phát triển nhanh và bền vững phải luôn gắn chặt với nhau trong quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế - xã hội”. Nội dung của phát triển bền vững Dựa trên những luận giải được thể hiện ở trên, có thể tóm tắt lại những nội dung của phát triển bền vững dựa trên các khía cạnh sau: * Phát triển bền vững về kinh tế Phát triển bền vững về kinh tế là sự tiến bộ về mọi mặt của nền kinh tế được thể hiện ở quá trình tăng trưởng kinh tế ổn định lâu dài và sự thay đổi về chất theo hướng tiến bộ của nền kinh tế, gắn với quá trình tăng năng suất lao động, sự biến đổi về cơ cấu kinh tế - xã hội và cải thiện môi trường sống. Tăng trưởng kinh tế: Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô sản lượng hàng hoá và dịch vụ trong một thời kì nhất định (thường là một năm). Người ta thường dùng các thước đo: Chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tổng sản phẩm quốc dân (GNP), tính mức tăng trưởng tuyệt đối trên phạm vi nền kinh tế quốc dân hay theo mức hình quân đầu người về giá trị tổng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ trong một năm.
Tăng trưởng kinh tế phải dựa trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ có nghĩa là: Trong một thời kỳ, cơ cấu kinh tế có tỷ trọng của ngành nông nghiệp, công nghiệp ngày càng giảm, tỷ trọng giá trị và lao động của ngành dịch vụ ngày càng tăng nhanh và chiếm ưu thế. Nếu tăng trưởng kinh tế không dựa trên cơ sở chuyển dịch có cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, mà chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên và bán sản phẩm thô thì không thể có phát triển bền vững như trường hợp một số nước ở vùng Trung Đông. Tăng trưởng kinh tế phải dựa vào năng lực nội sinh là chủ yếu, đồng thời phải làm tăng năng lực nội sinh. Năng lực nội sinh được thể hiện ở những chỉ 9 tiêu như: Chất lượng nguồn nhân lực, năng lực sáng tạo, công nghệ quốc gia, mức độ tích luỹ của nền kinh tế; mức độ hoàn thiện, hiện đại của hệ thống kết cấu hạ tầng,.
* Phát triển bền vững về xã hội Tăng trưởng kinh tế phải gắn với giải quyết việc làm cho người lao động. Có việc làm thì người lao động mới có quyền, thu nhập và các điều kiện tự hoàn thiện nhân cách của chính mình. Người lao động nếu không có việc làm, bị thất nghiệp sẽ không có thu nhập, dễ này sinh nhiều tiêu cực, tệ nạn xã hội. Các cụ xưa đã có câu: “nhàn cư vi bất thiện”.
Theo quy luật Okun, cứ 1% thất nghiệp tăng thêm ngoài thất nghiệp tự nhiên, thì sẽ làm mất đi 2% GDP Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với xoá đói giảm nghèo, bởi xoá đói giảm nghèo làm tăng năng lực SX cho người nghèo, thông qua nâng cao kiến thức, trình độ cho người nghèo, hỗ trợ vốn cho người nghèo. Xoá đói giảm nghèo còn tạo ta mặt bằng xã hội phát triển tương đối đồng đều, đảm bảo an sinh xã hội, đó là một điều kiện cần thiết cho phát triển bền vững. Tăng trưởng kinh tế phải hướng đến nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư như: thu nhập bình quân đầu người, tuổi thọ bình quân, tỷ lệ trẻ em sơ sinh tử vong, tỷ lệ trẻ em dưới 05 tuổi bị suy dinh dưỡng, tỷ lệ Bác sĩ trên 1000 dân, tỷ lệ dân số được dùng nước sạch, tỷ lệ người lớn biết chữ, tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi được đi học,.