Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÀNH THUỶ SẢN VÀ PHÁT TRIỂN NGHỀ KHAI THÁC HẢI SẢN 1. KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI, ĐẶC ĐIỂM NGÀNH THUỶ SẢN 1. Khái niệm ngành thủy sản Ngành thủy sản là một ngành kinh tế trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo nghĩa rộng và cũng là một ngành trong cơ cấu kinh tế biển (bao gồm hàng hải; thủy sản; khai thác chế biến dầu khí; du lịch biển; làm muối, dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; kinh tế đảo). Từ trước đến nay, các tài liệu về kinh tế thủy sản ở trong nước và nước ngoài đều thống nhất chung một khái niệm: Ngành thủy sản là ngành sản xuất vật chất và kinh doanh dựa trên cơ sở khai thác có hiệu quả nguồn lợi thủy sinh, tiềm năng các vùng nước để thu được những sản phẩm thuỷ sản đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của con người và xã hội.
Phân loại ngành thủy sản Trong quá trình sản xuất kinh doanh, hoạt động thủy sản bao gồm 4 loại nghề chủ yếu: Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, nuôi trồng thủy sản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm thủy sản, cơ khí và dịch vụ hậu cần nghề cá. - Khai thác thuỷ sản là nghề sử dụng các phương tiện khai thác tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên như biển, sông, hồ, đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác có giá trị kinh tế, khoa học để phục vụ nhu cầu của con người. - Nuôi trồng thủy sản là nghề sử dụng mặt nước nội địa, bao gồm ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, kênh, rạch; mặt nước biển và ven biển. để nuôi các loại động, thực vật sinh sống dưới nước.
- Chế biến thủy sản và tiêu thụ sản phẩm là nghề sử dụng các loại nguyên liệu thuỷ sản từ khai thác và nuôi trồng để làm ra các loại sản phẩm khác nhau. Thông qua chế biến có thể làm tăng chất lượng sản phẩm thuỷ sản, giữ nguyên chất lượng hoặc chất lượng giảm không đáng kể, nhằm có thể tiêu thụ trên nhiều địa bàn và trong một thời gian nhất định. 5 - Cơ khí và dịch vụ hậu cần nghề cá bao gồm các hoạt động đóng mới, sửa chữa tàu thuyền, sản xuất ngư lưới cụ, các hoạt động cung ứng nguyên, nhiên liệu liệu, vật tư kỹ thuật, thông tin tiếp thị, tư vấn và tài chính tín dụng, hoạt động xuất, nhập khẩu. Đặc điểm ngành thuỷ sản Ngành thuỷ sản là một bộ phận cấu thành của ngành nông nghiệp, vì vậy nó mang những đặc điểm chung vốn có của ngành nông nghiệp.
Đó là: - Thuỷ vực là tư liệu sản xuất đặc biệt, con người không thể thay thế được. Tính đặc biệt đó thể hiện ở chỗ có nhiều loại thuỷ vực khác nhau: nước ngọt, nước mặn, nước lợ, phân bố trên một không gian rộng lớn, nhưng vị trí cố định và diện tích mặt nước có thể sử dụng vào sản xuất thuỷ sản có giới hạn nhất định. - Đối tượng sản xuất ngành thuỷ sản là những sinh vật sống trong nước, có chu kỳ sản xuất dài, có đặc điểm sinh lý, sinh trưởng khác nhau, nó phản ứng rất nhạy cảm với những biến đổi của điều kiện tự nhiên. Những quy luật khách quan đó đòi hỏi người lao động phải gắn mình với đối tượng sinh học, phải có kinh nghiệm, hiểu biết theo dõi toàn bộ quá trình sản xuất, không thể chuyên môn hoá, phân đoạn máy móc như trong công nghiệp.
Công cụ sản xuất trong thuỷ sản dù có hiện đại bao nhiêu đi nữa vẫn không thể nào thay thế được tính chất sinh học của đối tượng sản xuất của ngành thuỷ sản. - Do quy luật sinh học của sinh vật nên tính thời vụ trong ngành thuỷ sản là một hiện tượng không thể khắc phục được. Ngoài ra sản xuất thuỷ sản thường trải dài trên một không gian rộng lớn và chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện tự nhiên nên tính thời vụ cũng được quy định rất chặt chẽ. Vì vậy vào những lúc thời vụ căng thẳng, hoặc vào những thời điểm đứng trước sự đe doạ của thiên nhiên (lũ lụt, bão tố, dịch bệnh.) nó đòi hỏi một thái độ lao động nghiêm túc, một sự chịu đựng vất vã và đức hy sinh lớn lao với một tinh thần hoàn toàn tự nguyện mới có thể mang lại kết quả thiết thực.
- Cũng như trong nông nghiệp, trong ngành thuỷ sản quá trình tái sản xuất kinh tế và quá trình tái sản xuất tự nhiên luôn đan xen và quấn quýt vào nhau. Mặt 6 khác, quá trình tái sản xuất tự nhiên của sinh vật thuỷ sinh là một quá trình liên tục, hoàn chỉnh không thể chia cắt về mặt thời gian, không gian. Ngoài ra do có sự mâu thuẫn giữa chi phí sản xuất mỗi khâu và thu nhập gắn với sản phẩm cuối cùng; có sự khác nhau về năng suất lao động và kỹ năng lao động, do đó đòi hỏi phải có sự thống nhất giữa đơn vị sản xuất và đơn vị phân phối [42]. - Ngành thuỷ sản là ngành sản xuất mang tính liên ngành cao bao gồm nhiều lĩnh vực hoạt động mang những tính chất công nghiệp, nông nghiệp, thương mại và dịch vụ, cơ cấu thành một hệ thống thống nhất có liên quan chặt chẽ và hữu cơ với nhau.
Các nghề khai thác, đóng mới, sửa chữa tàu thuyền, sản xuất ngư lưới cụ, chế biến và bảo quản thuỷ sản trực thuộc công nghiệp; quá trình tiêu thụ sản phẩm thủy sản thuộc ngành thương mại; các dịch vụ hậu cần như cung cấp vật tư, nguyên, nhiên liệu, lương thực, thực phẩm và chuyên chở đặc dụng thuộc lĩnh vực dịch vụ; nuôi trồng thuỷ sản mang đặc tính của ngành nông nghiệp. KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI, ĐẶC ĐIỂM NGHỀ KHAI THÁC HẢI SẢN 1. Khái niệm nghề khai thác hải sản Như đã trình bày ở trên, khai thác hải sản được xem là một nghề chủ yếu của ngành thuỷ sản. Đây là một trong những nghề có từ lâu đời nhất trong quá trình hình thành và phát triển của lịch sử loài người (săn bắn, hái lượm, đánh bắt cá.) nhằm khai thác nguồn lợi sẳn có trong tự nhiên đáp ứng nhu cầu cuộc sống.
Từ trước đến nay đã có nhiều tác giả đưa ra các khái niệm khác nhau về khai thác hải sản. Căn cứ vào Từ điển Tiếng Việt - Viện ngôn ngữ học - Nhà xuất bản Đà Nẵng -2006 và tổng hợp những khái niệm của các tác giả nói trên thì: Khai thác hải sản là quá trình hoạt động của con người sử dụng các loại phương tiện như tàu, thuyền, các cấu trúc nổi khác và các loại ngư cụ để thu được những nguồn lợi sinh vật từ biển và đại dương nhằm đáp ứng nhu cầu của con người. Phân loại nghề khai thác hải sản - Theo cơ cấu nghề nghiệp: Hiện nay ở Việt Nam có khoảng 25 loại nghề khai thác hải sản khác nhau, trong đó có 6 họ nghề chính sau đây [65]: + Họ lưới kéo ( gồm lưới kéo đơn, lưới kéo đôi, lưới kéo tôm) 7 + Họ lưới vây (gồm lưới vây ánh sáng, lưới rùng). + Họ lưới vó, mành (lưới vó, rớ, lưới vó ánh sáng, mành chà, mành đèn).
+ Họ lưới rê (Rê thu ngừ, rê chuồn, rê 3 lớp đánh mực, rê thường, rê đa loài). + Họ nghề khác (lưới trủ, giã cào. - Theo năng lực phương tiện khai thác: Gồm có các loại tàu có công suất dưới 20CV, công suất từ 20 - 49 CV, công suất từ 50 - 89 CV, công suất từ 90 - 249 CV, công suất 250 CV trở lên. - Theo ngư trường: + Ngư trường vùng ven bờ và vùng lộng <50m nước sâu: Vùng ven bờ từ 20 m sâu trở vào chủ yếu là ngư trường khai thác của các phương tiện thủ công, các tàu thuyền có công suất nhỏ chuyên hoạt động bằng nghề ven bờ như: xăm trủ, te giã ruốc, giã tôm, rê 3 lớp, khai thác nhuyễn thể.
Vùng nước sâu từ 20-40 m là ngư trường khai thác chủ yếu của các loại tàu, thuyền gắn máy có công suất từ 20-60CV chuyên sử dụng các nghề mành ánh sáng, mành rút, giã kéo tôm cá, lừ bóng, câu chụp mực. + Ngư trường khơi từ 50m – 90m nước sâu đòi hỏi trang bị tàu, thuyền có công suất trên 60CV, chịu được sóng, gió cấp 5-6, hoạt động chủ yếu bằng các nghề lưới vây, rê khơi, câu khơi. + Ngư trường khơi từ 90 m nước sâu trở lên đòi hỏi phải trang bị tàu công suất trên 90 CV, các tàu khai thác có khả năng chịu được sóng gió cấp 6-7, đánh bắt dài ngày trên biển bằng các nghề vây rút, chụp mực và câu khơi. Thực tế sản xuất, mỗi vùng biển có một cách bố trí sản xuất khác nhau phụ thuộc vào nghề nghiệp khai thác và quy mô, mức độ trang bị tàu thuyền, ngư lưới cụ phục vụ sản xuất.
Vì vậy, phân loại thành ba vùng chủ yếu: - Xa bờ (độ sâu nước biển trên 50 m) - Gần bờ (độ sâu nước biển dưới 20 m) - Ngư trường kết hợp gần bờ và xa bờ. Đặc điểm của nghề khai thác hải sản - Nghề khai thác thủy sản phụ thuộc vào ngư trường: Ngư trường là vùng biển có nguồn lợi hải sản tập trung được xác định để tàu cá đến khai thác. Mỗi loại 8 ngư trường có vị trí địa lý khác nhau, điều kiện địa hình, chế độ thuỷ triều khác nhau và nguồn thực vật, động vật phù du khác nhau do đó có trữ lượng nguồn lợi hải sản khác nhau. Vì vậy, xác định đúng ngư trường là điều kiện hết sức cần thiết, là một trong những yếu tố quan trọng có tính quyết định năng suất khai thác của nghề cá hiện nay.
- Nghề khai thác hải sản mang tính thời vụ: Ở vùng biển Việt Nam, đặc biệt là vùng biển vịnh Bắc Bộ, thời tiết phân mùa rõ rệt do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam. Vào mùa xuân đa số các loài cá di cư vào những vùng nước nóng gần bờ và ven các đảo, nơi có nhiệt độ và địa điểm phù hợp để sinh sản. Vào mùa hè một số loài vẫn tiến hành sinh sản, một số loài đã kết thúc giai đoạn đẻ rộ. Các loài cá nhỏ còn phân bố ở vùng gần bờ, các loài lớn di chuyển dần ra các vùng nước sâu hơn.
Vào mùa thu và đông, do ảnh hưởng của khí hậu lục địa, nhiệt độ vùng nước gần bờ giảm thấp, các loài cá trưởng thành di chuyển ra các vùng nước sâu có nhiệt độ cao hơn [70]. Vì vậy hoạt động khai thác hải sản trên vùng biển Quảng Bình được chia thành 2 vụ chính: Vụ cá Nam bắt đầu từ tháng 4 đến hết tháng 8 cùng với gió mùa Tây Nam.