MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài Hiện nay Tổng công ty đường sắt Việt Nam đang cùng cả nước đang trong thời kỳ đổi mới phấn đấu cho mục tiêu “công nghiệp hoá, hiện đại hoá” đất nước và trong những năm gần đây liên tục đạt được mức tăng trưởng cao (trên 10%). Đề tài tốt nghiệp hệ cao cấp lý luận chính trị “Thực trạng và giải pháp chủ yếu phát triển ngành đường sắt Việt Nam” được chọn trên việc phân tích thực trạng và giải pháp phát triển kinh doanh vận tải ngành đường sắt Việt Nam có ý nghĩa vận dụng lý thuyết để phân tích thực trạng sản xuất kinh doanh vận tải đường sắt, làm sáng tỏ những nhân tố và giải pháp cơ bản đảm bảo sự phát triển bền vững của Tổng công ty trong công cuộc đổi mới. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động sản xuất kinh doanh vận tải đường sắt của Tổng công ty đường sắt Việt Nam. - Phạm vi thời gian nghiên cứu: từ 10 năm qua và cho tới đến năm 2020.
- Phạm vi không gian nghiên cứu: lĩnh vực kinh doanh vận tải của Tổng công ty đường sắt Việt Nam Mục tiêu của luận văn Đề tài “Thực trạng và giải pháp chủ yếu phát triển ngành đường sắt Việt Nam” nhằm đến các mục tiêu chính sau đây. - Đánh giá thực trạng phát triển ngành đường sắt trong những năm gần đây, 3 nêu những khó khăn, tồn tại. - Vận dụng lý luận vào thực tiễn để đề ra các giải pháp đảm bảo sự tăng trưởng bền vững của Tổng công ty trong thời kỳ đổi mới. Cơ sở lý luận và phương pháp luận Đề tài “Thực trạng và giải pháp chủ yếu phát triển ngành đường sắt Việt Nam” được thực hiện trên cơ sở lý luận và phương pháp luận sau đây.
- Cơ sở lý luận: Chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng. - Phương pháp thống kê, biểu đồ. Kết cấu của luận văn - ` Trong luận văn này còn có 7 bảng và 5 hình minh hoạ. THỰC TRẠNG SẢN XUẤT KINH DOANH VẬN TẢI CỦA ĐƯỜNG SẮT VIỆT NAM 1.1 Lịch sử, đặc điểm, vai trò và nhân tố ảnh hưởng 1.1 Tóm tắt lịch sử Đường sắt Việt Nam Lịch sử Đường sắt Việt Nam bắt đầu từ năm 1881 với việc khởi công xây dựng tuyến Đường sắt đầu tiên giữa Sài Gòn và Mỹ Tho.
Sau 4 năm, chuyến tàu đầu tiên bắt đầu khởi hành từ Sài Gòn đi Mỹ Tho vào ngày 20/07/1885. Trong giai đoạn giữa năm 1882 và 1936 các tuyến đuờng chính đã được xây dựng theo công nghệ của Pháp theo loại khổ đuờng 1.000 mm và đã hình thành mạng lưới cơ bản của Đường sắt Việt Nam được sử dụng cho đến ngày nay. Ảnh tư liệu: Đường sắt bị bom đạn giặc Mỹ tàn phá nặng nề 5 Trong thời kỳ kháng chiến và cho tới khi thống nhất đất nước, Đường sắt Việt Nam đã bị thiệt hại nặng nề. Sau khi đất nước thống nhất, kể từ năm 1976 hầu hết các tuyến đường sắt đã được khôi phục lại, đặc biệt là tuyến Đường sắt Thống nhất Bắc Nam.
Tuy nhiên do tình trạng thiếu vốn nên việc phục hồi hoàn toàn vẫn chưa thực hiện được. Sau khi chuyển đổi cơ cấu và chuyển sang cơ chế thị trường năm 1989, Đường sắt Việt Nam bắt tay vào chương trình khôi phục và hiện đại hoá đường sắt để Đường sắt Việt Nam trở thành một ngành vận tải tương đối quan trọng của Việt Nam, đóng góp tích cực vào sự tăng truởng kinh tế của đất nước và hoà nhập với các Đường sắt trong khu vực Đông Nam Á.2 Đặc điểm Giao thông vận tải đường sắt là loại hình giao thông được thực hiện bằng các phương tiện giao thông bánh sắt di chuyển trên đường ray thép. Mặc dù vận tải đường sắt là ngành kinh tế dịch vụ trong xã hội, nó cũng chịu nhiều ảnh hưởng của đặc điểm dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam. Dù các dân tộc này nhu cầu về kinh tế, văn hoá, xã hội khác nhau, nhưng có lẽ sử dụng dịch vụ vận tải đường sắt đã ăn sâu vào tâm trí người dân Việt Nam khi xuất phát nhu cầu vận chuyển hay đi lại ở cự ly trung bình và dài.
Đó là điều kiện hết sức thuận lợi cho sự tăng trưởng của ngành đường sắt, nhưng nó cũng đòi hỏi ngành đường sắt khi thực hiện dịch vụ vận tải phải đáp ứng nhu cầu hiện đại về an toàn, môi trường, tốc độ, chất lượng và giá cả từ phía khách hàng. 6 Tổng công ty đường sắt Việt Nam1, với tên giao dịch thương mại là Đường sắt Việt Nam, hoặc Vietnam Railways, viết tắt là VNR (theo tiếng Anh) là đơn vị kinh doanh nhiều ngành nghề liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vận tải đường sắt như công nghiệp chế tạo, xây dựng công trình, du lịch, khách sạn… nhưng vận tải hàng hoá và hành khách vẫn chiếm vị trí then chốt. Các đơn vị vận tải hành khách và hàng hoá của Đường sắt Việt Nam (thường được gọi là khối vận tải) hàng năm đem lại doanh thu chiếm khoảng 39% tổng doanh thu toàn Tổng công ty. Vì vậy đề tài sẽ không phân tích hoạt động của tất cả các khối sản xuất trong Đường sắt Việt Nam, mà chỉ tập trung vào việc phân tích hoạt động và sự phát triển của khối vận tải và coi sự phát triển của khối vận tải là nhân tố chủ yếu kéo theo sự phát triển của các lĩnh vực sản xuất khác trong toàn Tổng công ty.3 Mạng lưới, hệ thống tổ chức sản xuất vận tải và cơ sở hạ tấng Đường sắt Việt Nam Ðường sắt Việt Nam là một doanh nghiệp Nhà nước chịu trách nhiệm quản lý và khai thác mạng lưới đường sắt trên phạm vi cả nước.
Sau đây sẽ mô tả ngắn gọn mạng lưới đường sắt Việt Nam, hệ thống tổ chức sản xuất vận tải, cơ sở hạ tầng đường sắt.1 Mạng lưới các tuyến đường sắt của đường sắt Việt Nam 1 Trụ sở của Tổng công ty đường sắt Việt Nam được đặt tại 118 đường Lê Duẩn, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, địa chỉ Website: http://www. Mạng lưới đường sắt Việt Nam và đường sắt ASEAN Mạng lưới đường của Đường sắt Việt Nam có tổng chiều dài là 2600 km nối với các trung tâm dân cư, văn hoá, công nghiệp và nông nghiệp chính, nối với mạng lưới đường sắt tiêu chuẩn của Trung Quốc tại Lạng Sơn và đường sắt khổ đường 1.000 mm của Trung Quốc tại Lào Cai, có tiềm năng nối với mạng lưới đường sắt của các nước trong khu vực Asean như Campuchia, Thái Lan và Malaysia vươn tới Singapore và các tuyến đường sẽ được xây dựng trong tương lai của Lào. Tuyến đường sắt chính dài 1.726 km chạy từ Bắc xuống Nam Việt Nam nối các 8 trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá lớn là Hà Nội, Thanh Hoá, Vinh, Huế, Đà NẵngNẵng, Nha Trang và thành phố Hồ Chí Minh. Bốn tuyến chính và hai tuyến nhánh ở phía Bắc nối Hà Nội với Hải Phòng, cảng Hải Phòng, Lạng Sơn, Lào Cai, Quán Triều, Pom Háp, Mai Pha và một số tuyến nữa nối Kép, Uông Bí và cảng Cái Lân đang được phát triển.
Chiều dài các tuyến đường sắt chính của Đường sắt Việt Nam Các tuyến đường chính Chiều dài tuyến Khổ đường (mm) (km) • Hà Nội - TP. Hồ Chí Minh 1.000 • Hà Nội - Hải Phòng 102 1.000 • Hà Nội - Lào Cai 296 1.000 • Hà Nội - Đồng Đăng 162 1.000 • Hà Nội - Quán Triều 75 1.000 • Kép - Uông Bí - Hạ Long 106 1.2 Hệ thống tổ chức và cơ chế hoạt động của Ðường sắt Việt Nam a. Hệ thống tổ chức Từ năm 1954 đến 1989, Tổng cục đường sắt là một cơ quan Nhà nước phụ trách vận tải đường sắt theo mô hình kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp. Từ năm 1989, Tổng Cục Ðường sắt đã được cải tổ thành doanh nghiệp của Nhà nước có tên là Liên hiệp Ðường sắt Việt Nam, hoạt động theo các nguyên tắc của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Liên hiệp Ðường sắt Việt 9 Nam bao gồm 4 khối nghiệp vụ chức năng là Khối vận tải, Khối công nghiệp, Khối quản lý cơ sở hạ tầng và Khối dịch vụ, đồng thời vẫn chịu trách nhiệm thực hiện một số nhiệm vụ quản lý Nhà nước với giao thông vận tải đường sắt. Theo địa lý hành chính, Liên hiệp Ðường sắt Việt Nam chia thành 3 khu vực. Xí nghiệp Liên hợp Vận tải Ðường sắt Khu vực 1 (Liên hợp 1) quản lý và khai thác mạng lưới đường sắt ở phía Bắc từ biên giới giáp với Trung Quốc ở phía Bắc tới Đồng Hới; Xí nghiệp Liên hợp Vận tải Ðường sắt Khu vực 2 (Liên hợp 2) từ Đồng Hới tới Diêu Trì và Xí nghiệp Liên hợp Vận tải Ðường sắt Khu vực 3 (Liên hợp 3) từ Diêu Trì vào thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan Liên hiệp Ðường sắt Việt Nam đặt tại Hà Nội, chịu trách nhiệm giám sát và phối hợp hoạt động chạy tàu và kinh doanh của 3 Liên hợp.
Ðồng thời cũng chịu trách nhiệm về lập kế hoạch đầu tư, định hướng phát triển, hiện đại hoá ngành đường sắt. Thực hiện Quyết định 34/2003/QĐ-TTg ngày 04/03/2003 của Thủ tướng Chính phủ, Liên hiệp đường sắt Việt Nam được tái cơ cấu thành Tổng Công ty đường sắt Việt Nam. Ngày 13/06/2003, tại Trụ sở Liên hiệp đường sắt Việt Nam đã triển khai các quyết định của Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ GTVT bổ nhiệm các ủy viên Hội đồng Quản trị, Tổng Giám đốc Tổng Công ty ĐSVN. Từ ngày 07/07/2003 Đường sắt Việt Nam chính thức đi vào hoạt động theo mô hình tổ chức mới: Tổng Công ty đường sắt Việt Nam, trong đó khối vận tải bao gồm 4 đơn vị chính là Công ty vận tải hành khách đường sắt Hà Nội, Công ty vận tải hành khách đường sắt Sài Gòn, Công ty vận tải hàng hoá đường sắt và Trung tâm điều hành vận tải đường sắt.
Hiện nay, là một Tổng công ty Nhà nước được xây dựng chủ yếu theo mô hình các Tổng công ty 91, Đường sắt Việt Nam có Hội đồng quản trị với 5 uỷ viên, 10 Ban Giám đốc có Tổng giám đốc và 4 Phó Tổng giám đốc. Ngoài Ban Nghiệp vụ trực thuộc Hội đồng quản trị, Cơ quan Tổng công ty có các Ban tham mưu như Kế hoạch - Đầu tư, Tài chính - Kế toán, Tổ chức – Cán bộ - Lao động, Vận chuyển, Quan hệ quốc tế, Khoa học – Công nghệ, Thống kê – Máy tính, Bảo vệ - An ninh - Quốc phòng… giúp việc Tổng giám đốc.