Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đề tài khóa luận tốt nghiệp Cao cấp lý luận chính trị "Thực trạng và giải pháp chủ yếu phát triển ngành đường sắt Việt Nam" được thực hiện bởi học viên Vũ Văn Chung thuộc Khoa Kinh tế phát triển, Lớp Cao cấp lý luận chính trị Đường sắt khóa IV (2002-2004), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Nguyễn Hữu Tư tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (hoàn thành vào tháng 8 năm 2004).

Bối cảnh nghiên cứu xuất phát từ thực tiễn Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR) cùng cả nước bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Mặc dù ngành đường sắt liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng doanh thu ở mức cao (trên 10%/năm trong những năm đầu thập niên 2000), song sự phát triển này vẫn đối mặt với nhiều rào cản nội tại như hạ tầng kỹ thuật lạc hậu, thiếu hụt nguồn vốn đầu tư nghiêm trọng, áp lực cạnh tranh gay gắt từ các phương thức vận tải khác và mô hình quản trị đang trong quá trình chuyển đổi theo Quyết định số 34/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể gồm hai nội dung chính:

  1. Đánh giá thực trạng phát triển của ngành đường sắt Việt Nam trong giai đoạn 1995–2004, chỉ rõ các kết quả đạt được cùng những tồn tại, khó khăn và nguyên nhân cơ bản cản trở sự phát triển.
  2. Vận dụng lý luận kinh tế phát triển và đường lối của Đảng vào thực tiễn để đề xuất hệ thống giải pháp chủ yếu nhằm đảm bảo sự tăng trưởng bền vững của Tổng công ty Đường sắt Việt Nam đến năm 2020.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động sản xuất kinh doanh vận tải đường sắt của Tổng công ty Đường sắt Việt Nam, trọng tâm là khối vận tải (đơn vị trực tiếp tạo ra khoảng 39% tổng doanh thu toàn Tổng công ty và đóng vai trò động lực cho các lĩnh vực công nghiệp, xây lắp, dịch vụ phụ trợ).
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ mạng lưới đường sắt quốc gia do Tổng công ty Đường sắt Việt Nam quản lý và khai thác.
  • Phạm vi thời gian: Phân tích dữ liệu thực trạng 10 năm (1995–2004) và định hướng mục tiêu, giải pháp phát triển đến năm 2020 theo quy hoạch được Chính phủ phê duyệt.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp là các định hướng nêu trong Báo cáo "Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010" của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX.

Về mặt thể chế và pháp lý, tác giả căn cứ vào:

  • Quyết định số 34/2003/QĐ-TTg ngày 04/03/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Tổng công ty Đường sắt Việt Nam trên cơ sở tổ chức lại Liên hiệp Đường sắt Việt Nam.
  • "Quy hoạch tổng thể phát triển ngành giao thông vận tải đường sắt Việt Nam đến năm 2020" được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 07/01/2002.
  • Các lý thuyết kinh tế thị trường ứng dụng: Quy luật cung - cầu và cơ chế định giá linh hoạt trong kinh doanh dịch vụ vận tải; nguyên lý tách bạch giữa quản lý kết cấu hạ tầng (tài sản công ích quốc gia) và kinh doanh vận tải; mô hình quản trị doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn (mô hình Tổng công ty 91).

Phương pháp nghiên cứu được triển khai bao gồm:

  • Phương pháp thống kê mô tả và phân tích chuỗi thời gian: Tổng hợp, xử lý dữ liệu định lượng về doanh thu vận tải, sản lượng luân chuyển tính đổi theo tháng và theo năm trong giai đoạn 1995–2004.
  • Phương pháp so sánh, tổng hợp: Đánh giá tương quan thị phần giữa đường sắt và các phương thức vận tải khác (đường bộ, đường biển, đường sông, đường hàng không) giai đoạn 1999–2002; phân tích cơ cấu chi phí, lao động và năng suất.
  • Phương pháp biểu đồ: Sử dụng 7 bảng số liệu thống kê và 5 hình vẽ minh họa để phản ánh diễn biến tăng trưởng, quy mô tài sản và mô hình tổ chức.

Nguồn dữ liệu được trích xuất từ các báo cáo thống kê chính thức của Tổng công ty Đường sắt Việt Nam, số liệu thống kê ngành Giao thông Vận tải và các văn kiện, nghị quyết của Đảng, Chính phủ.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Thực trạng sản xuất kinh doanh vận tải của Đường sắt Việt Nam

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử phát triển, đặc điểm kinh tế - kỹ thuật, mạng lưới, mô hình tổ chức và đi sâu phân tích thực trạng các yếu tố đầu vào - đầu ra cùng những hạn chế của ngành đường sắt.

Mạng lưới đường sắt quốc gia có tổng chiều dài 2.600 km, trong đó tuyến chính Hà Nội - TP. Hồ Chí Minh dài 1.726 km. Khổ đường 1.000 mm chiếm ưu thế tuyệt đối với 83% tổng chiều dài toàn mạng.

Tuyến đường sắt chính Chiều dài tuyến (km) Khổ đường (mm)
Hà Nội - TP. Hồ Chí Minh 1.726 1.000
Hà Nội - Hải Phòng 102 1.000
Hà Nội - Lào Cai 296 1.000
Hà Nội - Đồng Đăng 162 1.000
Hà Nội - Quán Triều 75 1.000
Kép - Uông Bí - Hạ Long 106 1.435 / Lồng

Về mô hình tổ chức, sau ngày 07/07/2003, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam vận hành theo mô hình Tổng công ty 91 với Hội đồng quản trị 5 ủy viên, Ban Giám đốc gồm Tổng giám đốc và 4 Phó Tổng giám đốc. Khối vận tải được tổ chức thành 4 đơn vị cốt lõi: Công ty Vận tải hành khách đường sắt Hà Nội, Công ty Vận tải hành khách đường sắt Sài Gòn, Công ty Vận tải hàng hóa đường sắt (3 đơn vị hạch toán phụ thuộc) và Trung tâm Điều hành vận tải đường sắt. Ngoài ra, Tổng công ty quản lý 20 công ty công ích bảo trì đường sắt và thông tin tín hiệu (giá trị sản lượng công ích khoảng 600 tỷ đồng/năm), 4 công ty TNHH một thành viên, 23 công ty cổ phần hóa và 6 đơn vị sự nghiệp.

Thị phần luân chuyển của đường sắt trong hệ thống giao thông vận tải quốc gia ở mức rất khiêm tốn:

Phương thức vận tải Luân chuyển hàng hóa 1999 (%) Luân chuyển hàng hóa 2002 (%) Luân chuyển hành khách 1999 (%) Luân chuyển hành khách 2002 (%)
Đường sắt 3,4 4,4 9,8 9,9
Đường bộ 11,2 13,6 64,5 63,6
Đường sông 11,5 7,5 10,3 6,8
Đường biển 73,6 74,2 0,1 0,2
Đường không 0,3 0,4 15,3 19,5

Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh giai đoạn 1995–2004 cho thấy:

  • Doanh thu vận tải: Tăng liên tục từ 812,68 tỷ đồng (1995) lên 1.758,81 tỷ đồng (2003). Riêng 7 tháng đầu năm 2004 đạt 1.126,15 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng doanh thu trước năm 2000 thiếu ổn định (năm 1998 tăng trưởng âm 1,75%), nhưng từ năm 2000 đạt mức tăng trưởng cao (năm 2000 đạt 24,51%, năm 2003 đạt 14,24%).
  • Sản lượng luân chuyển tính đổi: Tăng từ 3.934.591 nghìn tấn.km (1995) lên 6.796.751 nghìn tấn.km (2003); 7 tháng đầu năm 2004 đạt 4.165.613 nghìn tấn.km.
Chỉ tiêu (Đơn vị) Năm 1995 Năm 1998 Năm 2000 Năm 2002 Năm 2003 7 tháng 2004
Doanh thu vận tải (Triệu đồng) 812.680 937.053 1.260.243 1.539.631 1.758.813 1.126.155
Sản lượng tính đổi (Nghìn T.km) 3.934.591 3.909.255 5.154.898 6.088.731 6.796.751 4.165.613

Về tài chính và lao động:

  • Việc tách chi phí duy tu hạ tầng ra khỏi chi phí vận tải từ 01/01/1995 giúp ngành cân bằng thu chi và bắt đầu có lãi nhẹ (khoảng 10 tỷ đồng/năm, tương đương 0,5% doanh thu). Phí sử dụng hạ tầng đường sắt nộp lại cho Nhà nước bằng 10% doanh thu vận tải (ước đạt 200 tỷ đồng năm 2004).
  • Toàn ngành có 46.067 lao động (thu nhập bình quân 1,490 triệu đồng/tháng), trong đó khối vận tải có 20.308 người (thu nhập bình quân 1,767 triệu đồng/tháng). Quỹ lương khối vận tải năm 2002 chiếm gần 427 tỷ đồng (bằng 28% tổng doanh thu khối). Trình độ chuyên môn còn mỏng khi khối vận tải chỉ có 59 người có trình độ trên đại học.

Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật:

  • Toàn mạng có 325 đầu máy (tổng công suất 259.000 mã lực), 902 toa xe khách và 4.016 toa xe hàng khổ 1.000 mm.
  • Hạ tầng có 1.767 cầu với 35% chiều dài là dầm thép tạm thời (180 cầu), 300 cầu bị hạn chế tốc độ từ 15–40 km/h; 39 hầm (tổng chiều dài 11.468 m) bị rỉ nước và nứt vỡ; 250 ga; hệ thống tín hiệu đóng đường chủ yếu dùng thẻ đường và cơ khí. Toàn mạng đã đưa vào vận hành trên 100 thiết bị gác chắn và cảnh báo đường ngang tự động.

Hạn chế và nguyên nhân: Tác giả chỉ ra các hạn chế chính gồm: nguy cơ tai nạn giao thông cao, chất lượng phục vụ và tỷ lệ tàu đúng giờ thấp, thiếu vốn đầu tư trầm trọng (vốn xây dựng cơ bản hạ tầng đường sắt chỉ chiếm 6–7% tổng vốn ngành GTVT), năng lực cạnh tranh yếu và tăng trưởng chưa thực sự vững chắc. Nguyên nhân trực tiếp là do hạ tầng kỹ thuật đường đơn khổ hẹp lạc hậu, phương tiện vận tải cũ kỹ (phần lớn hoạt động trên 20 năm), lực lượng lao động đông nhưng năng lực quản trị - công nghệ hạn chế, và thiếu một quy hoạch quốc gia thống nhất, đồng bộ giữa các phương thức vận tải.

Chương 2: Giải pháp phát triển của Đường sắt Việt Nam

Chương 2 trình bày xu thế quốc tế, phân tích các mục tiêu quy hoạch phát triển ngành đến năm 2020 và đề xuất 5 nhóm giải pháp chiến lược.

Xu thế quốc tế được tổng kết qua các đặc điểm: hiện đại hóa đoàn tàu tốc độ cao (trên 120 km/h), phân định rạch ròi tài chính giữa quản lý kết cấu hạ tầng quốc gia và doanh nghiệp khai thác vận tải, tỷ trọng vận chuyển chuyển dịch mạnh sang hành khách (chiếm 65–75% tổng lượng luân chuyển), và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin.

Mục tiêu quy hoạch phát triển đường sắt Việt Nam đến năm 2020 (theo Quyết định ngày 07/01/2002 của Thủ tướng Chính phủ):

  • Đạt tỷ trọng 25%–30% về luân chuyển hàng hóa (tấn.km), 20%–25% về luân chuyển hành khách (khách.km) toàn ngành giao thông; đường sắt đô thị tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đảm nhận tối thiểu 20% khối lượng đi lại.
  • Tốc độ chạy tàu đến năm 2020 đạt 80 km/h đối với tàu hàng và từ 120 km/h trở lên đối với tàu khách.
  • Xây dựng tuyến đường đôi riêng biệt chạy tàu khách cao tốc Bắc - Nam khổ tiêu chuẩn 1.435 mm nhằm rút ngắn thời gian hành trình Hà Nội - TP. Hồ Chí Minh xuống dưới 10 giờ.

Tổng nhu cầu vốn đầu tư theo quy hoạch đến năm 2020 là 161.270 tỷ đồng:

Lĩnh vực đầu tư Giai đoạn 2001 - 2010 (Tỷ VNĐ) Giai đoạn 2010 - 2020 (Tỷ VNĐ) Tổng nhu cầu vốn (Tỷ VNĐ)
Cơ sở hạ tầng đường sắt 23.530 74.870 98.400
Phát triển kinh doanh vận tải 12.870 50.000 62.870
Tổng cộng 36.400 124.870 161.270

Năm nhóm giải pháp phát triển chủ yếu được tác giả đề xuất:

  1. Nhóm giải pháp về vốn: Đa dạng hóa nguồn tài chính thông qua vay vốn tín dụng từ Quỹ hỗ trợ phát triển, nguồn ODA (Nhật Bản, Đức, Pháp, Trung Quốc), vốn vay thương mại; đẩy nhanh tiến độ hoàn thành cổ phần hóa 23 đơn vị thành viên trong năm 2004; áp dụng cơ chế BOT (Xây dựng - Khai thác - Chuyển giao) nội bộ để huy động vốn đóng góp từ cán bộ công nhân viên và các đơn vị thành viên nhằm đầu tư các hạng mục công trình phục vụ trực tiếp sản xuất.
  2. Nhóm giải pháp về cơ chế tài chính: Thực hiện quyền tự chủ giá cước vận tải linh hoạt theo tín hiệu thị trường; Nhà nước thực hiện chính sách bù giá, trợ giá cho các tuyến vận tải bắt buộc phải duy trì vì mục tiêu dân sinh, an ninh quốc phòng; nâng mức cấp kinh phí sự nghiệp kinh tế duy tu hạ tầng từ ngân sách nhà nước lên khoảng 2.000 tỷ đồng/năm (thay vì mức 600 tỷ đồng/năm thời điểm 2004).
  3. Nhóm giải pháp về khoa học - công nghệ: Dành tối thiểu 2% tổng doanh thu hàng năm cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; nghiên cứu phụ kiện liên kết đàn hồi, tà vẹt bê tông dự ứng lực; làm chủ công nghệ đóng mới toa xe khách chất lượng cao, toa xe 2 tầng, toa xe VIP và tàu tự hành; hiện đại hóa thông tin tín hiệu cáp quang, tổng đài số và hệ thống điều hành tập trung.
  4. Nhóm giải pháp về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: Tổ chức thực hiện cuộc vận động "Người công nhân đường sắt thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa" với khẩu hiệu "ĐOÀN KẾT, KỶ LUẬT, SÁNG TẠO, HIỆU QUẢ"; xây dựng chương trình đào tạo lại tay nghề, đào tạo đội ngũ chuyên gia kỹ thuật và cán bộ quản lý, thực hiện tinh giản biên chế để nâng cao năng suất lao động.
  5. Nhóm giải pháp về hoàn thiện cơ chế hoạt động: Thể chế hóa và thực thi nghiêm túc Quy hoạch tổng thể ngành đường sắt đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; hoàn thiện mô hình tổ chức Tổng công ty 91, nâng cao quyền tự chủ gắn liền với trách nhiệm tài chính của các công ty vận tải thành viên.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và cung cấp bức tranh toàn diện về hoạt động kinh doanh vận tải đường sắt Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế:

  • Cung cấp chuỗi số liệu thống kê chi tiết trong 10 năm (1995–2004) về doanh thu theo tháng, sản lượng tính đổi và cơ cấu tài chính, làm rõ tính chu kỳ vận tải (đỉnh điểm rơi vào các tháng 1, 2 dịp Tết và tháng 6, 7 mùa du lịch Hè).
  • Khẳng định tính đúng đắn của chủ trương tách chi phí quản lý kết cấu hạ tầng ra khỏi chi phí kinh doanh vận tải từ năm 1995, tạo nền tảng để ngành đường sắt vận hành theo cơ chế thị trường, xóa bỏ bao cấp trực tiếp và bước đầu có lãi.
  • Làm rõ cơ cấu kỹ thuật và hiện trạng yếu kém của hệ thống phương tiện, cầu hầm, thông tin tín hiệu, phản ánh trung thực nguyên nhân khiến đường sắt chỉ chiếm dưới 5% thị phần vận chuyển hàng hóa và dưới 10% thị phần hành khách.
  • Hệ thống hóa các chỉ tiêu định lượng trong Quy hoạch tổng thể phát triển ngành đường sắt đến năm 2020 và cụ thể hóa thành 5 nhóm giải pháp mang tính ứng dụng thực tế cao (đặc biệt là giải pháp BOT nội bộ và đề xuất cơ chế ngân sách cấp bù duy tu tài sản hạ tầng quốc gia).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện tại thời điểm nghiên cứu:

  • Đề tài giới hạn đối tượng nghiên cứu ở khối vận tải (chiếm khoảng 39% doanh thu), chưa đi sâu phân tích toàn diện hiệu quả hoạt động của khối công nghiệp cơ khí chế tạo, khối dịch vụ phụ trợ và 20 công ty công ích quản lý kết cấu hạ tầng.
  • Số liệu thống kê năm 2004 mới dừng lại ở kết quả thực hiện của 7 tháng đầu năm, chưa phản ánh trọn vẹn kết quả tài chính của cả năm tài chính 2004.

Hướng nghiên cứu tiếp có thể mở rộng:

  • Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội và năng lực thích ứng của mô hình Tổng công ty Đường sắt Việt Nam sau một giai đoạn vận hành theo Quyết định 34/2003/QĐ-TTg.
  • Nghiên cứu chi tiết các mô hình tài chính quốc tế và cơ chế thu hút vốn đầu tư ngoài ngân sách cho dự án xây dựng tuyến đường sắt đôi tốc độ cao Bắc - Nam khổ 1.435 mm.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu nghiên cứu chuyên ngành có giá trị thực tiễn đối với:

  • Học viên, sinh viên các chuyên ngành Kinh tế phát triển, Quản lý kinh tế, Kinh tế vận tải, Quy hoạch giao thông vận tải khi tìm hiểu về lịch sử chuyển đổi mô hình quản trị doanh nghiệp nhà nước và kinh tế ngành đường sắt Việt Nam.
  • Cán bộ quản trị, chuyên viên kế hoạch - tài chính ngành giao thông vận tải trong việc tham khảo phương pháp phân tích mối quan hệ cung - cầu, cơ chế phân định tài chính hạ tầng - vận tải và các mô hình huy động vốn đầu tư công trình kỹ thuật.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao tác giả chỉ lựa chọn khối vận tải làm trọng tâm phân tích thay vì toàn bộ Tổng công ty Đường sắt Việt Nam?
Dù Tổng công ty kinh doanh đa ngành (công nghiệp chế tạo, xây dựng công trình, du lịch, khách sạn), khối vận tải là đơn vị trực tiếp mang lại 39% tổng doanh thu toàn ngành, giữ vị trí then chốt và là đầu tàu kéo theo sự phát triển của các lĩnh vực sản xuất khác.

2. Chi phí tiền lương chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng doanh thu khối vận tải năm 2002?
Năm 2002, doanh thu khối vận tải đạt gần 1.540 tỷ đồng và đã chi gần 427 tỷ đồng cho quỹ lương, tương đương 28% tổng doanh thu của khối (thu nhập bình quân đạt 1,767 triệu đồng/người/tháng).

3. Cơ chế "BOT nội bộ" do Tổng công ty Đường sắt Việt Nam triển khai có nội dung như thế nào?
Đây là chính sách khuyến khích cán bộ công nhân viên và các đơn vị thành viên trong ngành tự nguyện góp vốn đầu tư các công trình phục vụ trực tiếp sản xuất; người góp vốn được quyền thu phí khai thác, sử dụng trong một thời hạn nhất định trước khi bàn giao lại công trình cho Tổng công ty.

4. Khổ đường sắt 1.000 mm chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong tổng mạng lưới đường sắt Việt Nam thời điểm nghiên cứu?
Đường sắt khổ hẹp 1.000 mm chiếm tới 83% tổng chiều dài toàn mạng lưới (bao gồm cả đường chính, đường nhánh và đường ga), là nguyên nhân kỹ thuật hạn chế vận tốc và tải trọng đoàn tàu.

5. Tổng nhu cầu vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng và kinh doanh vận tải đường sắt đến năm 2020 theo quy hoạch là bao nhiêu?
Tổng nhu cầu vốn quy hoạch đến năm 2020 là 161.270 tỷ đồng, trong đó đầu tư cho cơ sở hạ tầng là 98.400 tỷ đồng và đầu tư phát triển kinh doanh vận tải là 62.870 tỷ đồng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của học viên Vũ Văn Chung đã khái quát bức tranh kinh tế - kỹ thuật của ngành đường sắt Việt Nam trong giai đoạn bản lề chuyển đổi sang mô hình Tổng công ty 91 và hội nhập kinh tế. Bằng việc phân tích thực chứng các chuỗi dữ liệu 10 năm (1995–2004), công trình chỉ rõ những nút thắt về cơ sở hạ tầng đường đơn khổ hẹp, áp lực thiếu vốn và lực lượng lao động dư thừa. Hệ thống 5 nhóm giải pháp được xây dựng bám sát Quy hoạch phát triển đến năm 2020 của Chính phủ, đề xuất các định hướng có giá trị thực tiễn về cơ chế giá cước, đổi mới công nghệ và đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư phát triển ngành đường sắt quốc gia.