MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay, đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, mặc dù nước ta đã đạt được những thành tựu nhất định song kết quả đạt được vẫn còn ở mức khiêm tốn. Tuy sản lượng gạo xuất khẩu đứng thứ 2 trên thế giới nhưng chất lượng vẫn còn thấp, tỷ trọng ngành công nghiệp - dịch vụ có tăng nhưng không cao. Hơn nữa, sự canh tranh mạnh mẽ của các nước trên thế giới đẩy Việt Nam cùng với một số nước khác đang đứng trước nguy cơ lạm phát.
Nước ta là một nước nông nghiệp lấy sản xuất lúa nước làm chính. Có tới 72,88% cư dân đang sống ở nông thôn, làm ra 39,65 tấn lương thực lấy hạt, trong đó có 35,83 triệu tấn thóc và 3,82 triệu tấn ngô (2006). Nông dân với 27 triệu lao động đang sống trong 50. Trong Nông nghiệp, trồng trọt chiếm tới 73,5%, chăn nuôi chiếm 27,7%, còn dịch vụ chỉ chiếm có 1,8%.
Trong thu nhập quốc nội (GDP) thì nông lâm thủy sản còn tới 20,36%, công nghiệp, xây dựng là 41,56%, còn dịch vụ là 38,08%. Sau nhiều năm chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, đến nay, về cơ bản nông nghiệp, nông thôn Việt Nam vẫn mang tính tự cấp, tự túc, khép kín. Khi nước ta gia nhập WTO, tham gia vào các không gian hợp tác kinh tế lớn của khu vực và thế giới, sức ép của hội nhập và phát triển ngày một lớn, đặt ra yêu cầu rất cao đối với nền kinh tế, trong đó lĩnh vực nông nghiệp là lĩnh vực thách thức nhất. Bởi nước ta đi lên bằng sản xuất nông nghiệp là chủ đạo, nên trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội gặp không ít khó khăn.
Thiên tai dịch bệnh diễn ra liên tiếp, tác động xấu đến sản xuất và đời sông nhân dân. Cũng trong thời kì hiện nay khủng hoảng kinh tế dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp tăng cao cả ở thành thị phát cao, sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn, nhập siêu ở mức cao, thiên lẫn nông thôn. Với tình trạng này kéo dài sẽ dẫn đến hàng loạt các vấn đề xã hội khác. Để đương đầu với những khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Đảng và Nhà Nước đã và đang tiếp tục thực hiện đẩy mạnh công cuộc CNH - HĐH đất nước.
Đưa đất nước ta phát triển bền vững và toàn n 2 diện. Tuy vậy nhưng thực tế cho thấy nông thôn nước ta vẫn còn những yếu kém cần phải sớm khắc phục như: Tình trạng lạc hậu về khoa học công nghệ, ruộng đất ngày càng bị thu hẹp, đặc biệt là những ruộng nhất đẳng điền, những bờ xôi, ruộng mật bị lấy đi để xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, sân golf hoặc xây các khu nhà để kinh doanh, ngoài ra vấn đề chất lượng nông sản khi xuất khẩu còn chưa cao, hiệu quả kinh tế từ sản xuất nông nghiệp còn thấp, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm (Nguyễn Lân Dũng, 2008) công nghiệp chế biến kém phát triển, mức sống và dân trí nhiều vùng nông thôn rất thấp, CSHT, trình độ quản lý, quan hệ sản xuất chậm đổi mới. Để sớm khắc phục những tồn tại còn bộc lộ trong nông thôn Việt Nam, trong văn kiện hội nghị lần thứ V của BCHTW khoá IX chỉ rõ: “Xây dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng, kinh tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại. Từ nay đến năm 2010 tập trung mọi nguồn lực để thực hiện một bước cơ bản mục tiêu tổng quát và lâu dài đó” (Nguyễn Lân Dũng, 2008).
Xã Đông Cao nằm ở phía Đông Nam của huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Ngoài nông nghiệp ra thì xã còn phát triển những ngành nghề khác như tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ đã góp phần tăng thu nhập cho người dân và đẩy mạnh nền kinh tế xã. Tuy vậy các nguồn lực như đất đai, lao động của xã vẫn đang còn là tiềm năng chưa được khai thác và sử dụng hợp lý, có hiệu quả. Để góp phần giải quyết những vấn đề trên em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế - xã hội xã Đông Cao, huyện Phổ Yên,, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011 - 2013”.
Mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu tổng quát Đánh giá hiện trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế - xã hội xã Đông Cao, huyện Phổ Yên,, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011 - 2013”. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của xã Đông Cao. - Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế xã hội của xã Đông Cao.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để -phát triển kinh tế xã hộ xã Đông Cao. Yêu cầu của đề tài - Đánh giá đúng thực trạng về tình hình phát triển kinh tế- xã hội của xã - Tài liệu, số liệu thu thập được phải chính xá, khách quan, trung thực - Giải pháp đề xuất có tính khả thi, phù hợp với thực trạng địa phương 1. Ý nghĩa của đề tài * Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học - Nghiên cứu đề tài giúp sinh viên củng cố lại những kiến thức cơ bản và những kiến thức đào tạo chuyên môn trong quá trình học tập trong nhà trường, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên có cơ hội tiếp cận với những kiến thức ngoài thực tế. - Nghiên cứu đề tài là cơ sở cho sinh viên vận dụng sáng tạo những kiến thức đã học vào thực tiễn và là tiền đề quan trọng để sinh viên thấy được những kiến thức cơ bản cần bổ sung để phù hợp với thực tế công việc sau này.
- Nghiên cứu đề tài nhằm phát huy cao tính tự giác, chủ động học tập, nghiên cứu của sinh viên. Nâng cao tinh thần tìm tòi, học hỏi, sáng tạo và khả năng vận dụng kiến thức vào tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình và định hướng những ý tưởng trong điều kiện thực tế. - Đây là khoảng thời gian để mỗi sinh viên có cơ hội được thực tế vận dụng kiến thức đã học vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học và là bàn đạp cho việc xuất phát những ý tưởng nghiên cứu khoa học sau này * Ý nghĩa thực tiễn - Đánh giá được đời sống vật chất tinh thần của người dân trong xã. - Đề xuất được những biện pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân trong xã hội nói riêng, góp phần ổn định xã hội nói chung.
n 4 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế nông thôn * Kinh tế - xã hội: - KT-XH là một vấn đề rộng lớn, bao trùm mọi mặt trong hoạt động của một quốc gia nói chung và một tỉnh, một huyện, một đơn vị hành chính xã nói riêng. Nó liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều ngành khoa học. - KT-XH là một phạm trù bao gồm các vấn đề: KT-VHXH-ANQP.
Các vấn đề được nghiên cứu cụ thể là: tình hình sản xuất nông-lâm-thuỷ sản; CN-TTCN, DV; cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm,.), y tế giáo dục,… Tất cả những vấn đề này có liên quan mật thiết với nhau. Chúng tác động tạo thành mối quan hệ hai chiều. Mỗi một vấn đề giữ một vị trí quan trọng riêng không thể thiếu. * Tăng trưởng và phát triển: - Tăng trưởng là sự gia tăng cơ sở vật chất được biểu hiện bằng sự gia tăng của một hoặc nhiều chỉ tiêu kinh tế, hoặc của cả nền kinh tế quốc dân trong một thời gian, được đánh giá bằng chỉ số % tăng thêm của tổng thu nhập hàng năm hay từng thời kỳ.
- Phát triển là một quá trình làm thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội,… * Tăng trưởng kinh tế và Phát triển kinh tế: - Tăng trưởng kinh tế là sự tăng thêm hay gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. - Phát triển kinh tế có thể hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng (tăng trưởng) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế-xã hội. * Phát triển kinh tế - xã hội theo hướng CNH - HĐH: Là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, n 5 quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Quá trình này đặc biệt quan tâm đến vùng nông thôn.
Quá trình CNH - HĐH nông thôn là một quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, phân công lại lao động và ngành nghề, đa dạng hoá kinh tế nông thôn theo hướng ngày càng nâng cao tỷ trọng của các hoạt động công nghiệp và phi nông nghiệp khác bằng việc áp dụng ngày càng rộng rãi và có hiệu quả những tiến bộ KHKT trong sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp và các ngành nghề phi nông nghiệp để không ngừng phát triển kinh tế và nâng cao mọi mặt đời sống của cộng đồng dân cư nông thôn, góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. * Phát triển bền vững: Hội nghị thượng đỉnh về trái đất năm 1992 đưa ra định nghĩa vắn tắt về phát triển bền vững: “Phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu của thế hệ ngày nay mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu tương lai,.” Trong những năm qua, đất nước ta đã đạt được những thành tựu nhất định, đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt, thu nhập bình quân đầu người tăng lên qua từng năm, số hộ nghèo giảm dần, số lượng hộ giàu tăng lên, rút ngắn khoảng cách thành thị - nông thôn, giảm bất bình đẳng xã hội, cơ sở hạ tầng được nâng lên đáng kể, nhất là công trình giao thông được tu bổ đầu tư lớn, giúp việc đi lại, kinh doanh, lưu thông hàng hoá của người dân; giáo dục y tế cũng được nâng cấp. Xã hội đang dần tiến tới một xã hôi thực sự văn minh, dân chủ, công bằng xã hội, quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ ở nhiều vùng nông thôn.