CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Khái niệm về phát triển kinh tế Mặc dù có nhiều thuật ngữ khác nhau được sử dụng để phân biệt nhóm quốc gia này với nhóm quốc gia khác, chúng ta vẫn cần thận trọng với những thuật ngữ được dùng để mô tả bản thân quá trình phát triển. Thuật ngữ tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế đôi lúc được dùng lẫn lộn với nhau, tuy nhiên chúng khác biệt nhau về bản chất. Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập/sản phẩm bình quân đầu người hoặc thu nhập/sản phẩm quốc dân.
Nếu việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia tăng lên theo bất cứ cách nào, cùng với đó là thu nhập bình quân tăng lên thì quốc gia đó đã đạt được “tăng trưởng kinh tế”. Phát triển kinh tế có nội hàm rộng hơn. Đặc biệt nó đề cập đến những cải thiện trong lĩnh vực y tế, giáo dục và những khía cạnh khác nhau trong phúc lợi con người. Những quốc gia có thu nhập tăng nhưng tuổi thọ bình quân không tăng, tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh không giảm, tỷ lệ người biết chữ không tăng thì sẽ thiếu đi những khía cạnh quan trọng của phát triển.
Nếu toàn bộ sự gia tăng về thu nhập chỉ tập trung chủ yếu ở một nhóm nhỏ những người giàu hoặc được dùng để xây tượng đài hay bộ máy quân đội thì đó chẳng gắn kết là bao với sự phát triển theo nghĩa mà ta đề cấp đến ở đây. Như vậy, khi nói về một xã hội phát triển, chúng ta thường hình dung ra một xã hội, ở đó mọi người được ăn ngon, mặc đẹp, có khả năng chủ động trong việc tiếp cận các loại tài sản vật chất, có những hoạt động vui chơi giải trí sang trọng, được sống trong một môi trường trong sạch và lành mạnh. Chúng ta cũng nghĩ tới một xã hội không có sự phân biệt đối xử, với các mức độ công bằng cần thiết. Một yêu cầu tối thiểu của một quốc gia phát triển đó là chất lượng cuộc sống vật chất của quốc gia đó phải cao và được phân phối một cách đồng đều thay vì chỉ giới hạn một cách bất hợp lý cho một bộ phận tối thiểu giàu có trong xã hội.
Cao hơn yêu cầu tối thiểu đó, một quốc gia phát triển còn đề cập đến các quyền và sự tự do của con người về mặt chính trị, sự phát triển về văn hóa và tri thức, sự bền vững của gia đình v. Những phân tích trên đây đi 7 đến khái niệm tổng quát nhất về phát triển kinh tế, đó là quá trình tăng tiến, toàn diện và về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội của một quốc gia. Nội dung về phát triển kinh tế a) Nếu xét theo khía cạnh các bộ phận cấu thành, phát triển kinh tế là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình phát triển cả hai lĩnh vực của nền kinh tế là lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực xã hội. Phát triển lĩnh vực kinh tế của nền kinh tế bao gồm hai quá trình, đó là sự lớn lên của nền kinh tế (tăng trưởng kinh tế) và quá trình thay đổi cấu trúc của nền kinh tế (chuyển dịch cơ cấu kinh tế).
Sự gia tăng được thể hiện ở quy mô và tốc độ. Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ. Thu nhập của nền kinh tế có thể biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giá trị. Thu nhập bằng giá trị được tính bằng các chỉ số như: tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng thu nhập quốc gia (GNI) v.v…cho toàn thể nền kinh tế hoặc tính bình quân trên đầu người.
Xác định tăng trưởng kinh tế thông qua các chỉ số đo lường thu nhập bằng giá trị. Có ba cách sử dụng đơn vị tiền tệ để tính thu nhập, điều đó có nghĩa là có 3 kết quả giá trị thu nhập khác nhau: Thu nhập tính theo đơn vị đồng tiền nội địa của mỗi quốc gia: Theo tiếp cận này, thu nhập được tính trên cơ sở sản lượng hiện vật được tạo nên từ sản xuất và dịch vụ và nhân với đơn giá tính theo đồng tiền nội địa (ví dụ: đồng tiền Nga là Rup, Nhật là Yên, đồng tiền Hàn Quốc là Uon, Thái Lan là Bat, Việt Nam là Đồng, v. Phương pháp tính này chỉ có tác dụng phản ánh thu nhập nội địa quốc gia hoặc địa phương, sử dụng trong các báo cáo kinh tế của nhà nước hoặc các địa phương. Tuy vậy cách tính thu nhập theo đồng tiền nội địa không hàm chứa ý nghĩa so sánh quốc tế.
Thu nhập tính theo phương pháp quy đổi ngoại tệ trực tiếp: Đây là cách tính khá phổ biến hiện nay và có ý nghĩa so sánh quốc tế khi xác định thu nhập 8 và so sánh thu nhập giữa các nước trên thế giới. Theo phương pháp này thu nhập được tính dựa theo tổng thu nhập tính bằng đồng tiền nội địa và quy đổi ra đồng đô la Mỹ theo tỷ giá ngoại tệ của mỗi nước. Với cách tính toán này, giá trị thu nhập bình quân đầu người (GNI/người) được Ngân hàng Thế giới (WB) sử dụng để xếp các loại nước theo thu nhập và chia thành: các nước thu nhập thấp, các nước thu nhập trung bình và các nước thu nhập cao. Thu nhập tính theo ngang giá sức mua (PPP - Purchasing Power Parity): Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cùng Ngân hàng thế giới đã đề xuất cách tính thu nhập theo sức mua tương đương.
Theo cách này, GNI của mỗi nước được tính trực tiếp theo giá quốc tế, tức là theo đồng đô la quốc tế (hiện nay lấy đồng đô la của Mỹ làm sức mua tương đương). Cách tiếp cận theo PPP sẽ khắc phục được hạn chế về sức mua cũng như các chính sách giá và tỷ giá có phân biệt giữa các nước, vì thế nó có tác dụng so sánh quốc tế chính xác hơn, nhất là khi đánh giá mức sống dân cư giữa các quốc gia với nhau qua thu nhập. Theo cách tiếp cận PPP, thu nhập của Hoa Kỳ thì gần như không khác biệt giữa hai cách tính, trong khi với các nước đang phát triển thì độ lệch đến vài lần, còn trái lại, với một số nước công nghiệp phát triển ở Tây Âu và Nhật Bản thì do giá cả hơi cao nên khi chuyên sang theo PPP thì các chỉ số tổng sản phẩm quốc gia (GNP), tổng thu nhập quốc gia (GNI) bị giảm đi, bình quân khoảng 5%. (2) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thuộc nội hàm của phát triển kinh tế, nó được thể hiện ở sự thay đổi về quy mô, tỷ trọng các bộ phận cấu thành nền kinh tế, vị trí và mối quan hệ tác động qua lại giữa các bộ phận này với nhau trong quá trình phát triển kinh tế.
Bản thân cơ cấu kinh tế thường được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau. Dưới góc độ phân công lao động xã hội và sự phát triển của lực lượng sản xuất, chúng ta có cơ cấu ngành của nền kinh tế (gọi tắt là cơ cấu ngành kinh tế), theo đó nền kinh tế được chia thành ba nhóm ngành lớn (Nông nghiệp, Công nghiệp và Dịch vụ), tiếp theo là các ngành cấp 1, cấp 2, 3, 4, 5 (từ ngành cấp 2 trở đi gọi là các ngành chuyên môn hóa). Việc phân chia nền kinh tế thành ngày càng nhiều ngành chuyên môn hóa phản ánh xu thế phát triển ngày càng cao của nền kinh tế. Dưới góc độ không gian, có thể chia nền 9 kinh tế thành khu vực thành thị và khu vực nông thôn và nó phản ánh xu thế đô thị hóa.
Cũng theo góc độ không gian, có thể chia nền kinh tế thành các vùng động lực và vùng không động lực để giúp cho việc tổ chức hoạt động kinh tế một cách phù hợp và thực hiện mối liên kết kinh tế - xã hội giữa hai nhóm vùng một cách hợp lý. Ngoài ra theo góc độ không gian, có thể chia nền kinh tế thành các vùng kinh tế theo tính chất gần giống nhau về mặt địa lý, cách chia này giúp chúng ta có thể có những phương án phân chia vùng theo tính chất chuyên môn hóa. Ngoài ra cơ cấu kinh tế còn được xem xét theo các góc độ: xã hội hóa về tư liệu sản xuất (bao gồm hai khu vực kinh tế chính là khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân), theo tính chất luân chuyển của nền kinh tế vĩ mô (bao gồm các khu vực thể chế của nền kinh tế). Mỗi góc độ nhìn nhận cơ cấu kinh tế mang những ý nghĩa khác nhau.
Theo đúng quy luật, sự phát triển thường đi kèm với sự dịch chuyển đáng kể trong cơ cấu nền kinh tế, với ngày càng nhiều người chuyển từ lĩnh vực sản xuất nông nghiệp ở nông thôn sang những công việc được trả lương cao hơn ở thành thành thị, thường là trong lĩnh vực công nghiệp chế tạo hay dịch vụ. Hai trong số những thay đổi cơ cấu quan trọng nhất thường đi kèm với phát triển kinh tế là tỷ trọng của công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân ngày càng tăng (trong khi tỷ trọng của nông nghiệp giảm) và phần trăm số dân sống ở thành thị tăng (trong khi số dân sống ở nông thôn giảm). Bên cạnh đó, những quốc gia bước vào thời kỳ phát triển kinh tế thường trải qua giai đoạn dân số tăng trưởng cao, rồi sau đó giảm, và trong lúc đó, cơ cấu dân số theo độ tuổi cũng thay đổi đáng kể. Hình thái tiêu dùng cũng tiến triển khi người dân không còn dành toàn bộ thu nhập của mình để mua hàng hóa thiết yếu nữa mà họ chuyển sang mua những hàng hóa lâu bền, và cuối cùng là mua những sản phẩm và dịch vụ giải trí.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thường gắn chặt với tăng trưởng kinh tế. Những trường hợp tăng trưởng kinh tế mà không tạo ra sự thay đổi cơ cấu thường là dấu hiệu cho thấy nguồn thu nhập mới chỉ tập trung chủ yếu ở một nhóm nhỏ dân cư. Tăng 10 trưởng không gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế thường là những trường hợp ngoại lệ, không mang tính quy luật, nhưng tình trạng này hoàn toàn có thể xảy ra.