Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển các khu kinh tế cửa khẩu. Chương 2: Thực trạng phát triển khu kinh tế cửa khẩu tỉnh Cao Bằng. Chương 3: Quan điểm, định hướng và giải pháp phát triển khu kinh tế cửa khẩu tỉnh Cao Bằng đến năm 2020, tầm nhìn 2025. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CÁC KHU KINH TẾ CỬA KHẨU 1.
Một số khái niệm và vai trò của khu kinh tế cửa khẩu. Các khái niệm Để hiểu một cách đầy đủ khái niệm khu kinh tế cửa khẩu, cần thiết phải đi tìm hiểu các khái niệm có liên quan đó là: Khái niệm về cửa khẩu, khu kinh tế, khu kinh tế cửa khẩu và phát triển khu kinh tế cửa khẩu. Khái niệm cửa khẩu Trong Nghị định 112/2014/NĐ-CP ngày 21 tháng 11 nă m 2014, thuật ngữ cửa khẩu (hay còn gọi là cửa khẩu biên giới) được giải thích là nơi thực hiện việc xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, xuất khẩu, nhập khẩu và qua lại biên giới quốc gia trên đất liền, bao gồm cửa khẩu đường bộ, cửa khẩu đường sắt và cửa khẩu biên giới đường thủy nội địa. Cửa khẩu biên giới đường thủy nội địa là cửa khẩu biên giới đất liền được mở trên các tuyến đường thủy đi qua đường biên giới quốc gia trên đất liền.
Khu vực cửa khẩu biên giới đất liền (còn gọi là khu vực cửa khẩu) là khu vực được xác định, có một phần địa giới hành chính trùng với đường biên giới quốc gia trên đất liền, trong đó bao gồm các khu chức năng để đảm bảo cho các hoạt động quản lý nhà nước và hoạt động dịch vụ, thương mại tại cửa khẩu. Nếu như năm 2005, quy định cửa khẩu biên giới đất liền chỉ bao gồm cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính và cửa khẩu phụ, được mở trên các tuyến đường bộ, đường sắt, đường thuỷ nội địa trong khu vực biên giới theo Hiệp định về Quy chế biên giới đã được ký kết giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Ch ính phủ nước láng giềng để thực hiện việc xuất, nhập và qua lại biên giới quốc gia (Nghị định 32/2005/NĐ-CP) thì năm 2014, cửa khẩu biên giới đất liền được chia thành cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính (cửa khẩu song phương), cửa khẩu phụ và lối mở biên giới. Cụ thể là: Cửa khẩu quốc tế được mở cho người, phương tiện của Việt Nam và nước ngoài xuất cảnh, nhập cảnh; hàng hóa, vật phẩm xuất khẩu, nhập khẩu. Cửa khẩu chính (cửa khẩu song phương) được mở cho người, phương tiện Việt Nam và nước láng giềng có chung cửa khẩu xuất cảnh, nhập cảnh; hàng hóa, vật phẩm xuất khẩu, nhập khẩu.
14 Cửa khẩu phụ được mở cho người, phương tiện Việt Nam và nước láng giềng thuộc tỉnh biên giới hai bên xuất cảnh, nhập cảnh; hàng hóa, vật phẩm xuất khẩu, nhập khẩu. Lối mở biên giới (hay còn gọi là đường qua lại chợ biên giới, cặp chợ biên giới, điểm thông quan hàng hóa biên giới, đường qua lại tạm thời) được mở cho cư dân biên giới hai bên, phương tiện, hàng hóa của cư dân biên giới hai bên qua lại và các trường hợp khác nhằm thực hiện chính sách thương mại biên giới theo quy định của pháp luật; hoặc được mở trong trường hợp bất khả kháng hay yêu cầu đặc biệt của hai bên biên giới. Các hoạt động liên quan đến kinh tế cửa khẩu thường bao gồm các hoạt động trao đổi thương mại, hàng hóa giữa các cư dân, các doanh nghiệp đóng trên địa bàn nơi có các cửa khẩu biên giới. Trên thực tế, các hoạt động trao đổi này có thể được thực hiện tại các lối mở biên giới (như: các chợ, cặp chợ, điểm thông quan hàng hóa) với một khối lượng, giá trị hàng hóa nhất định theo quy định của Nhà nước, hoặc chính quyền địa phương sở tại.
Nhìn nhận ở góc độ lớn hơn, các hoạt động gắn với kinh tế cửa khẩu bao gồm tất cả các hoạt động kinh tế thương mại, đầu tư, khoa học – công nghệ, du lịch. qua các cửa khẩu biên giới, giữa các quốc gia có đường biên giới chung. Khái niệm khu kinh tế cửa khẩu Khu kinh tế là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của pháp luật. Khu kinh tế được tổ chức thành các khu chức năng gồm: Khu phi thuế quan, khu bảo thuế, khu chế xuất, khu công nghiệp (KCN), khu giải trí, khu du lịch, khu đô thị, khu dân cư, khu hành chính và các khu chức năng khác phù hợp với đặc điểm của từng khu kinh tế.
Khu phi thuế quan là khu vực kinh tế nằm trong lãnh thổ Việt Nam, được thành lập theo quy định của pháp luật, có ranh giới địa lý xác định, ngăn cách với khu vực bên ngoài bằng hàng rào cứng, bảo đảm điều kiện cho hoạt động kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan của cơ quan hải quan và các cơ quan có liên quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và phương tiện hành khách xuất cảnh, nhập cảnh; quan hệ mua bán, trao đổi hàng hóa giữa khu phi thuế quan với bên ngoài là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu (Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu, 2016). Khu bảo thuế là một khu vực cách biệt với các khu vực khác trong KKTCK, 15 có đặt trạm Hải quan để giám sát, kiểm tra hàng hoá ra vào và được áp dụng các ưu đãi về thuế theo quy định của pháp luật (Quy chế khu bảo thuế tại khu kinh tế cửa khẩu, 2003). Các loại hình kinh doanh được thực hiện trong khu bảo thuế bao gồm: Xuất nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, vận chuyển hàng hoá quá cảnh, kho ngoại quan, cửa hàng miễn thuế, hội chợ triển lãm, các cửa hàng giới thiệu sản phẩm, các cơ sở sản xuất, gia công hàng xuất nhập khẩu, các chi nhánh đại diện các Công ty trong nước và ngoài nước, chợ cửa khẩu. Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục theo quy định của pháp luật.
Khu chế xuất là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công nghiệp theo quy định của pháp luật. Khu kinh tế cửa khẩu là khu kinh tế hình thành ở khu vực biên giới đất liền có cửa khẩu quốc tế hoặc cửa khẩu chính và được thành lập theo các điều kiện, trình tự và thủ tục theo quy định của pháp luật (Nghị định 112/2014/NĐ-CP). Phạm Văn Linh (2001), khu kinh tế cửa khẩu là một không gian kinh tế xác định, gắn với cửa khẩu, có dân cư hoặc không có dân cư sinh sống và được thực hiện những cơ chế chính sách phát triển riêng, phù hợp với đặc điểm ởđó nhằm đưa lại hiệu quả KT-XH cao hơn do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Theo tác giả Giàng Thị Dung (2014), khu kinh tế cửa khẩu là một không gian kinh tế xác định, gắn với cửa khẩu, được cấp có thẩm quyền ra quyết định thành lập, được áp dụng các chính sách riêng để thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, giao lưu kinh tế, thương mại, dịch vụ, du lịch, công nghiệp giữa hai nước, nhằm thu lợi ích từ hội nhập, đẩy mạnh phát triển KT-XH gắn với bảo vệ an ninh biên giới.
Theo tác giả Rongxing Guo (2015), khu kinh tế cửa khẩu có thể được coi là một nhánh đặc biệt của khu vực kinh tế và liên vùng kinh tế, các lợi ích được tìm kiếm trong đó bao gồm ba khía cạnh: 1. Nền kinh tế độc lập trong khu vực biên giới; 2. Tương tác kinh tế qua biên giới và các khu vực có liên quan; 3. Coi nền kinh tế xuyên biên giới như một tổng thể.
Những khái niệm nêu trên mặc dù được diễn giải dưới những góc nhìn khác nhau, song đều tập trung vào một số điểm cơ bản bao gồm không gian diễn ra hoạt 16 động kinh tế, vấn đề pháp lý đảm bảo việc thành lập và đặc trưng của hoạt động kinh tế - xã hội gắn với KKTCK. Kế thừa những nghiên cứu trước đây, phân tích nội hàm khái niệm KKTCK, trong nghiên cứu này: Khu k inh tế cửa khẩu là một khu kinh tế được thành lập theo quy định của pháp luật, được hưởng các ưu đãi nhất định trong từng giai đoạn phát triển cụ thể, nằm trong vùng địa giới hành chính gắn với đường biên giới quốc gia, nơi diễn ra các hoạt động kinh tế thương mại, đầu tư, khoa học – công nghệ, du lịch giữa các quốc gia có đường biên giới chung. Nội hàm của khái niệm về khu kinh tế cửa khẩu đã đề cập ở trên cho ta thấy, nó có một số điểm giống và khác nhau so với một số mô hình kinh tế như khu công nghiệp, khu chế xuất… - Điểm giống nhau, trước hết về tư cách pháp nhân, chúng được thành lập do quyết định của Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ và được hưởng một số chế độ ưu đãi của Chính phủ hoặc chính quyền địa phương,có một không gian kinh tế hay một vị trí xác định. Ngoài ra, các hình thức kinh tế này đều nhằm mục đích nâng cao hiệu quả, thúc đẩy phát triển kinh tế vùng, địa phương, thông qua việc phát huy đặc điểm hoạt động của từng loại hình này đối với vùng, địa phương, hay kinh tế cả nước.
- Điểm khác nhau cơ bản giữa khu kinh tế cửa khẩu với các hình thức kinh tế này, là ở vị trí và điều kiện hình thành. Để thành lập khu kinh tế cửa khẩu trước hết phải gắn với vị trí cửa khẩu, đây là khu vực có dân hoặc không có dân sinh sống, có các doanh nghiệp trong nước ngoài. Hơn nữa, mực đ ích thành lập khu kinh tế cửa khẩu nhằm ưu tiên phát triển thương mại, xuất nhập khẩu, dịch vụ, du lịch và công nghiệp. Trong đó, qua trọng nhất là hoạt động thương mại, dịch vụ, bao gồm: hoạt động xuất, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, vận chuyển hàng hoá quá cảnh, kho ngoại quan, cửa hàng miễn thuế… Như vậy, nguồn hàng hóa trao đổi ở đây có thể là tại chỗ, hoặc từ nơi khác đưa đến, khác với khu công nghiệp và khu chế xuất.