Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịch biển đảo - Chương 2. Tiềm năng và thực trạng khai thác du lịch biển, đảo tại Cô Tô - Quảng Ninh. Định hướng và giải pháp phát triển du lịch biển, đảo tại Cô Tô - Quảng Ninh 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH BIỂN ĐẢO 1.
Cơ sở lý luận về du lịch biển đảo 1. Khái niệm du lịch biển , đảo Thực tế hoạt động du lịch đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. Ngay trong thời kỳ cổ đại với các nền văn hóa lớn như Ai Cập, Hy Lạp đã xuất hiện hình thức đi du lịch tuy đó chỉ là hoạt động mang tính tự phát, đó chỉ là các cuộc hành hương về các thánh địa, đất thánh, đền c hùa, các nhà thờ Kitô giáo, các cuộc du ngoạn của các vua chúa và quý tộc… Đến thế kỷ XVII, thời kỳ phục hưng ở các nước châu Âu, kinh tế - xã hội phát triển, các lĩnh vực như thông tin, giao thông vận tải theo đó phát triển nhanh chóng, điều đó càng thúc đẩy du lịch phát triển mạnh mẽ. Đến thời kỳ hiện đại cùng với sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, sự ra đời của các phương tiện giao thông mới, du lịch có điều kiện để phát triển mạnh, con người có thể đi từ nơi này đến nới khác trong thời gian ngắn.
Sống trong không gian “bê tông”, “máy tính”, tác phong công nghiệp đã quá mệt mỏi, con người nảy sinh nhu cầu trờ về với thiên nhiên, về với cội nguồn văn hóa dân tộc hay chỉ đơn thuần là để nghỉ ngơi sau những quãng thời gian lao động. Như vậy du lịch đã dần hình thành một hoạt động quen thuộc trong đời sống của con người và càng phát triển phong phú cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Và một trong những loại hình du lịch được con người biết tới và quan tâm nhiều đó chính là du lịch biển, đảo. Vậy du lịch biển, đảo là gì? Du lịch biển đảo là hoạt động du lịch diễn ra ở vùng ven biển, đảo với mục đích đón khách tắm biển, nghỉ dưỡng, thám hiểm… Du lịch biển, đảo là loại hình du lịch sinh thái mà dựa vào thiên nhiên là bờ biển, đảo để tắm, vui chơi… kết hợp với văn hoá bản địa gắn với giáo dục môi trường, có sự đóng góp bảo tồn và phát triển bền vững của cộng đồng địa phương.
5 Hay du lịch biển đảo là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên diễn ra trong các vùng có tiềm năng về biển đảo hướng tới thõa mãn nhu cầu con người về vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng, tham quan, tắm biển, nghiên cứu… Du lịch biển, đảo được xây dựng và phát triển trên cơ sở khai thác tài nguyên du lịch tự nhiên là ven biển, nước biển, cát biển,…và các hòn đảo tự nhiên. Trên cơ sở khai thác và phát triển cùng với du lịch nhân văn. Phân bố Biển đảo Việt Nam với tiềm năng du lịch lớn với đường bờ biển dài 3.260km có hình cong chữ S từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Hà Tiên (Kiên Giang) và hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ phân bố rải rác ở hầu hết các tỉnh từ Bắc vào Nam. Bao gồm các đảo ven bờ và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa nằm giữa biển.
Biển và đảo ngày càng có vai trò quan trọng về nhiều mặt kinh tế, quân sự, chính trị… Vì vậy, lịch sử phát triển của đất nước luôn gắn chặt với việc bảo vệ các vùng biển và hải đảo thuộc chủ quyền của đất nước. Biển đảo Việt Nam có tài nguyên phong phú và đa dạng.000 đảo nhưng phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở hai khu vực vịnh Bắc Bộ và Nam Bộ. Những đảo, quần đảo ven biển có dân cư sinh sống như: Cô Tô, Cái Bầu (Quảng Ninh), Cát Bà, Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), Hòn Lớn, Hòn Tre (Khánh Hòa), Lý Sơn (Quảng Ngãi), Phú Quý (Bình Thuận), Côn Sơn (Bà Rịa - Vũng Tàu), Phú Quốc, Thổ Chu, Nam Du (Kiên Giang)… Đặc biệt có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm ngoài khơi phía Đông tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Thuận vào đến các tỉnh Nam Bộ, bao gồm nhiều đảo nhỏ, nhiều bãi cát ngầm, bãi đá, bãi san hô. Tính mùa vụ Du lịch biển, đảo là loại hình du lịch khai thác các nguồn tài nguyên biển, đảo, phong cảnh đẹp, những giá trị nhân văn.
Song loại hình du lịch này phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, đặc biệt là điều kiện khí hậu. Sự thay đổi khí 6 hậu theo mùa là nguyên nhân chủ yếu tạo nên tính mùa vụ trong hoạt động du lịch biển, đảo ở nước ta, có ảnh hướng rất lớn đến tổ chức lãnh thổ du lịch. Đối với hoạt động du lịch biển, đảo Việt Nam, đa số khách đi du lịch với mục đích nghỉ dưỡng kết hợp tắm biển. Đây là loại hình du lịch chủ yếu của hoạt động du lịch này, phụ thuộc và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất của các điều kiện tự nhiên, nhất là điều kiện khí hậu.
Trên thực tế, những điểm, khu du lịch biển, đảo ở những nơi có điều kiện khí hậu phân hóa sâu sắc theo thời gian trong năm, thì tính mùa vụ trong hoạt động du lịch nơi đó cũng rõ rệt và mùa du lịch thường trùng với mùa khí hậu thuận lợi cho hoạt động du lịch. Nhìn chung, khí hậu ven biển nước ta phân hóa thành 2 mùa nên đặc điểm tính thời vụ trong loại hình du lịch biển, đảo cũng tương đối giống nhau. Nhưng do vị trí địa lý, địa hình, hoàn lưu dẫn đến sự phân hóa giữa các vùng, miền nên mùa vụ ở các điểm, khu du lịch biển, đảo có sự khác nhau về thời gian, độ dài và cả tình chất của mùa vụ. Cụ thể như ở vùng biển đảo phía Bắc, mùa đông chịu ảnh hưởng của khối không khí lạnh cực đới từ phía Bắc tràn xuống, có nhiệt độ thấp, mùa hè chịu ảnh hưởng của khối không khí nhiệt đới có nhiệt độ cao nên khí hậu ở vùng này phân hóa thành 2 mùa nóng, lạnh rõ rêt.
Khác với khu vực phía Bắc, phía Nam có điều kiện khí hậu thuận lợi, với nền nhiệt độ cao đều trong năm, ít chịu ảnh hưởng của bão và gió mùa đông bắc. Với điều kiện khí hậu thuận lợi, kết hợp cảnh quan đẹp, tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú, nên hoạt động du lịch biển, đảo nơi đây có thể diễn ra quanh năm. Tuy nhiên nó cũng chia thành 2 mùa: mùa khô và mùa mưa. Trong mùa mưa điều kiện để phát triển du lịch biển, đảo chỉ kém thuận lợi hơn mùa khô chút ít, chứ không ảnh hưởng nhiều đến hoạt động du lịch.
Như vậy, điểm đồng nhất trong mùa vụ du lịch biển, đảo của nước ta là có một mùa đông khách và một mùa vắng khách. Tính mùa vụ dù sâu sắc hay không sâu sắc đều ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động du lịch. Nó ảnh hưởng đến tất cả các hợp phần của hệ thống du lịch như tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật 7 phục vụ du lịch,lao đông trong du lịch, khách du lịch và mức độ tác động đến môi trường. Do tính thất thường của thời tiết nên hoạt động du lịch biển, đảo không diễn ra thường xuyên liên tục được.
Sự tổng hợp nhiều loại hình du lịch Du lịch biển, đảo là tổng hợp đa dạng nhiều loại hình du lịch khác nhau như nghỉ dưỡng, thể thao, nghiên cứu, thám hiểm, cắm trại… vì vậy, có thể đáp ứng nhu cầu đa dạng khác nhau của du khách. Biển, đảo còn có những thế mạnh riêng mà các ngành du lịch khác không có được. Các món ăn ẩm thực cũng làm phong phú thêm cho du lịch biển đảo. Chỉ có du lịch biển, hành khách mới có cơ hội thưởng thức những món ăn, những đặc sản của biển.
Du lịch biển, đảo không chỉ là món ăn tinh thần mà nó còn giúp tăng thêm thể chất, giúp tái sản xuất sức lực cho con người sau những tour khám phá, chinh phục, đi chơi xa, nghỉ dưỡng… 1. Vai trò của du lịch biển đảo a. Tạo ra sự đa dạng về loại hình du lịch Đa dạng hóa các loại hình du lịch là điều hết sức cần thiết của các quốc gia muốn phát triển ngành du lịch, trong đó có Việt Nam. Đối với nhiều quốc gia và địa phương du lịch đã và đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, hoạt động của du lịch phát triển theo hướng bền vững mang lại lợi ích kinh tế thiết thực cho cộng đồng địa phương, và chẳng những không phá hủy hoặc làm suy thoái các nguồn tài nguyên du lịch, mà còn đóng góp vào tăng trưởng về kinh tế, xã hội và môi trường.
Du lịch biển đảo phát triển tại Việt Nam vào năm 1994, và đánh dấu cho sự ra đời của du lịch biển đảo là sự ra đời nhiều khu du lịch biển tương đối hoàn chỉnh như Tuần Châu (Hạ Long), Furarna (Đà Nẵng) – và hiện nay nó là khu du lịch đạt tiêu chuẩn 5 sao vừa được Hiệp hội Khách Sạn thế giới (World Hotels) bình chọn là khu nghỉ mát tốt nhất thế giới năm 2004. 8 Du lịch biển đảo tạo ra sự đa dạng trong loại hình du lịch, việc phát triển du lịch biển kéo theo hàng loạt các loại hình du lịch ra đời và phát triển như lưu trú, nghỉ dưỡng, thể thao, nghiên cứu… điều này sẽ tạo ra sự đa dạng trong các loại hình du lịch cùng khai thác tiềm năng của biển đảo, nhằm thõa mãn tối đa nhu cầu của khách du lịch. Đa dạng hóa các loại hình du lịch không chỉ là nhiệm vụ mà còn là yếu tố tiên quyết cho sự tồn tại của ngành du lịch một quốc gia. Trên thực tế, du lịch Việt Nam vẫn đang ở dạng tiềm năng, những lợi thế du lịch chỉ được khai thác ở mức độ cơ bản.
Tuy vậy, với những bước thử nghiệm về các loại hình du lịch mới, du lịch Việt Nam đang từng bước gặt hái được những thành công. Phát triển kinh tế Cũng như các loại hình du lịch khác, du lịch biển, đảo thuộc ngành dịch vụ, ngành không khói, ít gây ô nhiễm môi trường, giúp khách du lịch vừa được nghỉ ngơi, giảm strees vừa biết thêm nhiều điều hay mới lạ mà khách chưa biết. Du lịch biển, đảo cũng góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu nhập , tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động.phát triển kinh tế của đất nước. Tuy nhiên du lịch biển, đảo cũng có những nét khác biệt so với các loại hình du lịch khác.