Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Du lịch biển đảo giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế dịch vụ và chiến lược phát triển kinh tế biển gắn liền với nhiệm vụ quốc phòng - an ninh của Việt Nam. Theo định hướng trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X, việc ưu tiên phát triển các ngành dịch vụ có tiềm năng lớn, nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm du lịch là nhiệm vụ trọng tâm. Tỉnh Quảng Ninh sở hữu diện tích tự nhiên trên 12.200 km² (gồm hơn 6.100 km² đất liền và hơn 6.100 km² mặt nước biển), hơn 2.000 hòn đảo lớn nhỏ (chiếm trên 2/3 số đảo cả nước) cùng đường bờ biển dài hơn 250 km. Trong hệ thống tài nguyên du lịch biển đảo của tỉnh, huyện đảo Cô Tô giữ vị trí tiền tiêu ở vùng biển Đông Bắc, sở hữu nhiều giá trị cảnh quan tự nhiên hoang sơ và tiềm năng kinh tế biển đa dạng.

Tuy nhiên, quá trình khai thác du lịch biển đảo tại Cô Tô trong thời gian đầu còn bộc lộ nhiều hạn chế về cơ sở hạ tầng, tính tự phát, tính mùa vụ và áp lực bảo vệ môi trường sinh thái. Nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn trên, tác giả thực hiện khóa luận với đề tài "Giải pháp phát triển du lịch biển đảo Cô Tô - Quảng Ninh".

Mục tiêu tổng quát của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch biển đảo, khảo sát và đánh giá toàn diện tiềm năng cùng thực trạng khai thác du lịch tại huyện đảo Cô Tô, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp phát triển du lịch biển đảo bền vững tại địa phương. Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định theo 3 nội dung cụ thể:

  1. Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về loại hình du lịch biển, đảo.
  2. Đánh giá tiềm năng và thực trạng khai thác du lịch biển, đảo tại huyện đảo Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh.
  3. Đề xuất các định hướng và giải pháp nhằm phát triển du lịch biển, đảo tại Cô Tô trong giai đoạn tiếp theo.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là loại hình du lịch biển, đảo, xét từ góc độ lý luận đến thực tiễn khai thác cụ thể. Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung tại địa bàn huyện đảo Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh. Thời gian nghiên cứu và dữ liệu khảo sát thực địa được thu thập trong giai đoạn 2012–2014 (tiêu biểu với đợt khảo sát thực tế từ ngày 17/06 đến 20/06).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận tiếp cận đề tài dựa trên khái niệm du lịch biển đảo: hoạt động du lịch diễn ra tại không gian ven biển và hải đảo nhằm đáp ứng các nhu cầu tắm biển, nghỉ dưỡng, thể thao, thám hiểm, nghiên cứu khoa học kết hợp tìm hiểu văn hóa bản địa. Về bản chất, đây là loại hình du lịch sinh thái dựa vào tài nguyên tự nhiên (mặt nước, bãi cát, rạn san hô, hệ sinh thái hải đảo) và tài nguyên nhân văn, đòi hỏi quản lý theo định hướng phát triển bền vững để bảo tồn môi trường sinh thái biển và tạo sinh kế cho cộng đồng địa phương. Tác giả phân tích 4 vai trò chủ đạo của du lịch biển đảo: đa dạng hóa sản phẩm du lịch quốc gia, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hỗ trợ bảo vệ môi trường sinh thái, và củng cố thế trận quốc phòng - an ninh trên biển.

Về cơ sở pháp lý và định hướng phát triển, đề tài căn cứ vào:

  • Quan điểm chỉ đạo tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng về phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh.
  • Đề án phát triển du lịch biển, đảo đến năm 2020 của Tổng cục Du lịch (đặt mục tiêu kinh tế biển đóng góp 53–55% GDP cả nước, trong đó du lịch biển đóng góp 14–15% GDP kinh tế biển).
  • Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1958 và Công ước Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982, Việt Nam phê chuẩn năm 1994 xác lập 5 vùng biển: nội thủy, lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, đặc quyền kinh tế, thềm lục địa).
  • Quyết định số 985 QĐ/VH ngày 07/05/1997 của Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận Khu di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đảo Cô Tô là Di tích lịch sử cấp quốc gia.

Phương pháp nghiên cứu được triển khai bao gồm:

  • Phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu thứ cấp: Thu thập số liệu thống kê từ các cơ quan quản lý nhà nước tại huyện Cô Tô, báo cáo của Tổng cục Du lịch, Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, các văn bản quy hoạch và số liệu từ các website du lịch chuyên ngành.
  • Phương pháp khảo sát thực địa: Thực hiện điền dã, ghi nhận thực tế tại các điểm tài nguyên, cơ sở lưu trú, nhà hàng, bến bãi giao thông đường thủy tại các xã Đồng Tiến, Thanh Lân và thị trấn Cô Tô.
  • Phương pháp thống kê, phân tích và so sánh: Phân tích các chỉ số về tài nguyên khí hậu, dân số, hạ tầng lưu trú, công suất buồng phòng, bảng giá dịch vụ vận tải và cơ cấu đầu tư công trình kỹ thuật phục vụ du lịch.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịch biển đảo

Chương này tập trung làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng của loại hình du lịch biển đảo:

  • Đặc trưng loại hình và tính mùa vụ: Du lịch biển đảo phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện thời tiết và khí hậu. Tại miền Bắc Việt Nam, khí hậu phân hóa thành 2 mùa rõ rệt (mùa đông chịu ảnh hưởng của khối không khí lạnh cực đới, mùa hè chịu ảnh hưởng của khối không khí nhiệt đới nhiệt độ cao), dẫn đến tính mùa vụ sâu sắc với một mùa đông khách và một mùa vắng khách. Hiện tượng này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn nhân lực và tổ chức lãnh thổ du lịch.
  • Vai trò kinh tế - xã hội và an ninh: Phát triển du lịch biển đảo góp phần xóa đói giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương, nâng cao nhận thức bảo tồn sinh thái biển và tăng cường chiều sâu phòng thủ quốc gia trên hướng biển (nơi đất liền có chiều ngang hẹp, điểm hẹp nhất chỉ 50 km).
  • Thực tiễn phát triển du lịch biển đảo quốc tế và Việt Nam: Tác giả lược khảo kinh nghiệm quốc tế tại đảo Tenerife (Tây Ban Nha, đón 5 triệu lượt khách/năm), Phuket (Thái Lan) và đảo Providenciales (Anh). Tại Việt Nam, với 3.260 km bờ biển, hơn 2.770 đảo ven bờ, 125 bãi tắm (hơn 30 bãi đã đầu tư khai thác), 2 vịnh biển nổi tiếng (Hạ Long, Nha Trang), 6 khu dự trữ sinh quyển thế giới (đến năm 2007) và 8 di sản thế giới (đến năm 2014). Vùng biển hàng năm thu hút khoảng 70% lượng khách quốc tế, 50% khách nội địa, đóng góp 70% tổng doanh thu ngành du lịch, sở hữu gần 1.400 cơ sở lưu trú (trên 45.000 phòng) và tạo việc làm cho 65% lao động du lịch trực tiếp cả nước.

Chương 2: Tiềm năng và thực trạng khai thác du lịch biển, đảo tại Cô Tô - Quảng Ninh

Chương 2 trình bày chi tiết các dữ liệu khảo sát thực tế về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và thực trạng dịch vụ du lịch tại địa bàn nghiên cứu:

  • Điều kiện tự nhiên và địa lý: Huyện đảo Cô Tô nằm ở phía Đông đảo Vân Đồn, cách đất liền khoảng 50 km, diện tích tự nhiên 46,2 km², gồm hơn 50 đảo, đá lớn nhỏ (Cô Tô Lớn, Cô Tô Con, Thanh Lân, Cồn Ba Đỉnh Con, Cồn Chân Kiểng...). Đơn vị hành chính gồm 3 đơn vị: thị trấn Cô Tô, xã Thanh Lân và xã Đồng Tiến. Dân số năm 2006 đạt 5.240 người (1.178 hộ dân) thuộc 5 dân tộc (Kinh, Sán Dìu, Mường, Tày, Hoa) di cư từ hơn 14 tỉnh thành ra xây dựng kinh tế mới. Địa hình có đỉnh Cáp Cháu (đảo Thanh Lân, cao 210 m), đỉnh Đài khí tượng (đảo Cô Tô Lớn, cao 160 m); đất rừng chiếm 2.200 ha, đất nông nghiệp 771 ha. Khí hậu nhiệt đới gió mùa: nhiệt độ bình quân 22,5°C, độ ẩm 83,6%, lượng mưa bình quân 1.664 mm/năm, tổng số giờ nắng 18.306 giờ/năm, 34 ngày sương mù/năm; nhiệt độ nước biển bình quân 27°C (thấp nhất 23°C), độ mặn 3,8%.
  • Tài nguyên du lịch nhân văn và danh thắng:
    • Di tích lịch sử Hồ Chủ Tịch: Tượng đài Bác Hồ dựng lần đầu năm 1968 bằng thạch cao, năm 1976 thay bằng tượng toàn thân bê tông cốt thép cao 4,5 m (toàn bệ cao 9 m, cách bờ biển 100 m), năm 1996 thay thế bằng chất liệu đá Granit; được xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 985 QĐ/VH (1997). Năm 2010, dự án tôn tạo khu di tích được đầu tư trên 39 tỷ đồng với diện tích mở rộng từ 6.500 m².
    • Tài nguyên cảnh quan tự nhiên: Cảng quân sự Bắc Vàn, Cầu Mỵ (bãi đá đầu sóng), bãi tắm Vàn Chảy (phía Tây), bãi tắm Hồng Vàn (phía Đông), ngọn hải đăng Cô Tô (nằm ở độ cao hơn 100 m, cầu thang 72 bậc, chạy bằng năng lượng mặt trời tích lũy ắc quy), rạn san hô quanh các đảo phụ.
  • Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng và kỹ thuật:
    • Cơ sở lưu trú: Toàn huyện có trên 600 phòng nghỉ. Từ cuối năm 2013 (sau khi có điện lưới quốc gia), người dân đầu tư thêm khoảng 500 phòng với tổng kinh phí trên 100 tỷ đồng. Khóa luận thống kê chi tiết các cơ sở lưu trú (khách sạn Thái Hà 40 phòng, Thành Trung 25 phòng, Thanh Măng 28 phòng, Green Cô Tô 15 phòng, Coto Lodge 13 phòng...) và mô hình du lịch cộng đồng (homestay) tại xã Đồng Tiến với hơn 10 hộ dân tham gia.
    • Giao thông vận tải: 100% tuyến đường liên thôn, ngõ xóm được bê tông hóa; đưa vào sử dụng 20 xe ô tô, 15 xe điện. Vận tải đường thủy tuyến Vân Đồn - Cô Tô được nâng cấp với các đội tàu cao tốc (thời gian di chuyển rút ngắn từ 3–4 giờ xuống còn 1–1,5 giờ, giá vé 160.000 đồng/lượt) và tàu gỗ (thời gian 3 giờ, giá vé 110.000 đồng/lượt).
    • Hạ tầng kỹ thuật phụ trợ: Hoàn thành đóng điện lưới quốc gia cuối năm 2013 bằng tuyến cáp ngầm xuyên biển dài 58,5 km (trong đó có 25 km cáp ngầm 22 kV, tổng mức đầu tư 1.106 tỷ đồng); đưa vào vận hành hồ chứa nước Trường Xuân dung tích 170.000 m³ (tổng vốn đầu tư 71 tỷ đồng), giải quyết nước sạch cho 95% hộ dân; xây dựng Trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá Bắc Vịnh Bắc Bộ với tổng mức đầu tư gần 500 tỷ đồng (đê chắn sóng dài 900 m cập tàu 600 CV, đường ra bến 1,775 km); phủ sóng internet wifi không dây toàn huyện từ năm 2012.
    • Nguồn nhân lực và xúc tiến: Thành lập Câu lạc bộ hướng dẫn viên tình nguyện gồm 8 thành viên; hỗ trợ đào tạo nghề ngắn hạn và cử gần 30 học viên học trung cấp du lịch tại Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Hạ Long; triển khai Đề án xây dựng "Đảo hoa đào" (trồng 10.000 gốc đào, gắn mã số trực tuyến cho du khách theo dõi cây trồng).

Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch biển, đảo tại Cô Tô - Quảng Ninh

Dựa trên mục tiêu xây dựng Cô Tô trở thành khu du lịch sinh thái - nghỉ dưỡng biển đảo cấp quốc gia, gắn kết với chuỗi du lịch Cát Bà - Hạ Long - Vân Đồn - Cô Tô - Móng Cái - Trà Cổ, nội dung chương này định hình các nhóm giải pháp:

  • Giải pháp chính sách và đầu tư hạ tầng: Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ 50% lãi suất vốn vay ngân hàng (hạn mức 200 triệu đồng/hộ) để xây mới phòng đón khách, hỗ trợ 5 triệu đồng/hộ xây dựng nhà vệ sinh khép kín, hỗ trợ 15–30 triệu đồng/hộ cải hoán tàu thuyền phục vụ vận chuyển khách; hoàn thiện hệ thống cấp thoát nước, xử lý rác thải thay thế hình thức chôn lấp.
  • Giải pháp đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao chất lượng dịch vụ: Hoàn thiện tour du lịch quân sự tại đảo Cô Tô Con, tour tình nguyện văn nghệ tại Thanh Lân - đảo Trần, phát triển du lịch sinh thái biển (dự án lặn biển và lướt sóng tại Cô Tô Con vốn đầu tư 5,5 triệu USD), khai thác ẩm thực hải sản đặc trưng (mực một nắng, sứa, bào ngư, hải sâm).
  • Giải pháp quản lý điểm đến và bảo vệ môi trường: Phân cấp quản lý bãi tắm, lắp đặt hệ thống cảnh báo an toàn bờ biển, kiểm soát niêm yết công khai giá dịch vụ, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, lắp đặt hệ thống chiếu sáng công cộng bằng pin năng lượng mặt trời (230 bộ tại khu trung tâm).
  • Giải pháp phát triển nguồn nhân lực và xúc tiến: Mở các lớp đào tạo ngoại ngữ (tiếng Anh, tiếng Trung), tin học và kỹ năng nghiệp vụ du lịch cộng đồng tại chỗ; duy trì tổ chức lễ hội thường niên "Văn hóa, thể thao, du lịch Cô Tô" vào dịp 30/4 - 1/5, phát hành cẩm nang du lịch và đẩy mạnh truyền thông trên các cổng thông tin điện tử.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp hệ thống dữ liệu định lượng cụ thể về tài nguyên, kinh tế - xã hội và cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch tại huyện đảo Cô Tô:

Hạng mục cơ sở hạ tầng / Dịch vụ Quy mô / Thông số kỹ thuật Nguồn vốn / Kinh phí đầu tư Ghi chú / Đơn vị thực hiện
Đường điện lưới quốc gia Chiều dài 58,5 km (25 km cáp ngầm 22 kV) 1.106 tỷ đồng Đưa vào vận hành cuối năm 2013
Hồ chứa nước Trường Xuân Dung tích 170.000 m³ 71 tỷ đồng Hoàn thành đầu năm 2013, cấp nước 95% hộ dân
Trung tâm hậu cần nghề cá Đê chắn sóng 900 m (tàu 600 CV), bến dài 1,775 km Gần 500 tỷ đồng Khởi công năm 2009, kết hợp hậu cần và du lịch
Hạ tầng cơ sở lưu trú Trên 600 phòng nghỉ (500 phòng đầu tư sau 2013) Trên 100 tỷ đồng (nguồn xã hội hóa) Gồm hệ thống khách sạn, nhà nghỉ và homestay
Vận tải đường thủy (Tàu cao tốc) Chạy tuyến Vân Đồn - Cô Tô (thời gian 1 - 1,5 giờ) Giá niêm yết: 160.000 đồng/vé Cung cấp bởi Cty Mạnh Quang, Cty Phúc Thịnh
Vận tải đường thủy (Tàu gỗ) Tuyến Vân Đồn - Cô Tô (thời gian 3 giờ) Giá niêm yết: 110.000 đồng/vé Tàu gỗ 09 Mạnh Quang, tàu Minh Ngọc, tàu 68
Phương tiện giao thông nội đảo 20 xe ô tô, 15 xe điện, 100% đường bê tông hóa Trên 210 tỷ đồng (làm mới >60 km đường) Xe điện Mạnh Quang, xe ô tô Bá Quyền, Quang Hòa
Tôn tạo Di tích Bác Hồ Mở rộng khuôn viên, ao cá, hồ điều hòa (>6.500 m²) Trên 39 tỷ đồng Ngân sách Trung ương, tỉnh Quảng Ninh và huyện
Đề án Đảo hoa đào 6.000 giống hoa, 10.000 gốc đào Hữu Lũng Ngân sách huyện và du khách tham gia Du khách trồng cây gắn mã số theo dõi qua internet

Đóng góp của nghiên cứu thể hiện qua việc hệ thống hóa toàn diện các dữ liệu thực địa tại thời điểm bước ngoặt về hạ tầng của huyện đảo Cô Tô (giai đoạn đóng điện lưới quốc gia và hoàn thành các công trình hạ tầng trọng điểm 2012–2014). Tác giả đã chỉ ra mối liên hệ trực tiếp giữa sự cải thiện hạ tầng kỹ thuật (điện, nước ngọt, giao thông cao tốc) với tốc độ gia tăng cơ sở lưu trú và khả năng thu hút vốn đầu tư du lịch cộng đồng. Đồng thời, đề tài tổng hợp được hệ thống bảng biểu chi tiết về danh bạ cơ sở dịch vụ lưu trú, nhà hàng ăn uống, điểm bán hàng đặc sản và phương tiện vận tải, đóng vai trò như một bộ dữ liệu khảo sát thực nghiệm có giá trị thực tiễn đối với công tác quản lý địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận phản ánh bức tranh phát triển du lịch Cô Tô tại thời điểm nghiên cứu với một số giới hạn:

  • Dữ liệu khảo sát thực tế và số liệu thống kê trong văn bản chủ yếu tập trung trong giai đoạn 2011–2014, gắn liền với mốc thời gian hoàn thành lưới điện quốc gia và các công trình giao thông trọng điểm thời kỳ đó.
  • Nguồn số liệu sơ cấp dựa trên chuyến khảo sát thực địa ngắn ngày (từ ngày 17/06 đến 20/06) và các thông tin niêm yết giá dịch vụ của doanh nghiệp địa phương, chưa áp dụng các mô hình định lượng phức tạp về sức chứa du lịch (carrying capacity) hay phân tích chuỗi cung ứng dịch vụ chuyên sâu.

Hướng mở rộng nghiên cứu từ phạm vi đề tài bao gồm việc đánh giá biến động môi trường sinh thái biển và diễn biến chất lượng bãi tắm sau khi lượng khách du lịch gia tăng nhanh; nghiên cứu giải pháp tối ưu hóa chuỗi dịch vụ liên kết vùng giữa Cô Tô với các trọng điểm du lịch lân cận (Vân Đồn, Vịnh Hạ Long, Vịnh Bái Tử Long và Cát Bà); và đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội dài hạn của các mô hình du lịch cộng đồng tại các xã đảo.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên các chuyên ngành Địa lý du lịch, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Kinh tế phát triển khi tìm kiếm mô hình phân tích thực trạng phát triển du lịch tại địa bàn hải đảo đặc thù.
  • Các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý nhà nước về du lịch cấp huyện/tỉnh cần nguồn tư liệu thực địa về quá trình chuyển đổi kinh tế, tác động của hạ tầng kỹ thuật (điện lưới, nước sạch, vận tải cao tốc) đối với sự hình thành chuỗi cung ứng dịch vụ lưu trú và du lịch sinh thái biển đảo giai đoạn 2012–2014.
  • Phần thống kê chi tiết về hệ thống cơ sở lưu trú, nhà đò, phương tiện vận tải đường thủy, giá dịch vụ niêm yết và danh mục chính sách tín dụng hỗ trợ người dân làm du lịch cộng đồng là nguồn dữ liệu đối chiếu thực nghiệm có giá trị.

Câu hỏi thường gặp

1. Công trình điện lưới quốc gia ra đảo Cô Tô có quy mô đầu tư và thông số kỹ thuật như thế nào? Công trình đường điện xuyên biển ra Cô Tô được hoàn thành vào cuối năm 2013 với tổng mức đầu tư hơn 1.106 tỷ đồng. Tuyến đường dây có tổng chiều dài 58,5 km từ Vân Đồn ra Cô Tô, trong đó bao gồm 25 km cáp ngầm 22 kV xuyên biển.

2. Di tích lịch sử tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đảo Cô Tô được xây dựng và thay đổi chất liệu qua các giai đoạn nào? Tượng Bác Hồ được dựng lần đầu năm 1968 bằng chất liệu thạch cao (dạng bán thân). Tháng 6/1976, tượng được thay thế bằng tượng toàn thân bằng bê tông cốt thép cao 4,5 m (toàn bệ cao 9 m, cách bờ biển 100 m). Đến năm 1996, tượng được thay thế bằng chất liệu đá Granit. Di tích được Bộ Văn hóa - Thông tin cấp Bằng công nhận Di tích lịch sử quốc gia theo Quyết định số 985 QĐ/VH ngày 07/05/1997.

3. Huyện Cô Tô đã áp dụng chính sách tài chính cụ thể nào để khuyến khích người dân tham gia làm du lịch cộng đồng? Hội đồng nhân dân và UBND huyện Cô Tô đã ban hành chính sách hỗ trợ 50% lãi suất vay ngân hàng với mức vay tối đa 200 triệu đồng/hộ để xây mới nhà ở đủ điều kiện đón khách; hỗ trợ 5 triệu đồng/hộ để xây nhà vệ sinh khép kín; hỗ trợ từ 15–30 triệu đồng/hộ cho ngư dân cải hoán, sửa chữa hoặc đóng mới tàu thuyền phục vụ kết hợp đưa đón khách du lịch; và hỗ trợ 80% học phí cho cán bộ, nhân dân học ngoại ngữ, tin học, học nghề du lịch.

4. Thời gian và chi phí di chuyển đường thủy tuyến Vân Đồn - Cô Tô được ghi nhận trong nghiên cứu là bao nhiêu? Tàu cao tốc chạy tuyến Vân Đồn - Cô Tô mất khoảng 1 đến 1,5 giờ di chuyển với giá vé 160.000 đồng/lượt (do Công ty CP TM & DV Mạnh Quang và Công ty CP Du lịch Quốc tế Phúc Thịnh vận hành). Tàu gỗ chạy tuyến Vân Đồn - Cô Tô mất khoảng 3 giờ di chuyển với giá vé 110.000 đồng/lượt (Tàu gỗ 09 Mạnh Quang).

5. Đề án "Đảo hoa đào" tại Cô Tô được tổ chức triển khai như thế nào? Đề án được xây dựng năm 2012 và thực hiện trong giai đoạn 2013–2015. Huyện đã mua 6.000 giống hoa các loại và 10.000 gốc đào từ huyện Hữu Lũng (Lạng Sơn) cấp cho người dân trồng. Đồng thời, mỗi du khách ra đảo được tham gia trồng 1 cây đào, được gắn biển mã số và thời gian trồng để theo dõi quá trình sinh trưởng của cây qua mạng internet.

Kết luận

Khóa luận "Giải pháp phát triển du lịch biển đảo Cô Tô - Quảng Ninh" đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch biển đảo và cung cấp bức tranh khảo sát thực địa chi tiết về tài nguyên, kinh tế - xã hội cùng hạ tầng dịch vụ của huyện đảo Cô Tô trong giai đoạn 2012–2014. Nghiên cứu khẳng định vai trò then chốt của các dự án hạ tầng kỹ thuật trọng điểm (điện lưới quốc gia, hồ nước ngọt Trường Xuân, trung tâm hậu cần nghề cá và giao thông cao tốc) đối với sự chuyển dịch cơ cấu dịch vụ du lịch tại địa phương. Các nhóm giải pháp do tác giả đề xuất bám sát thực trạng quản lý bãi tắm, hỗ trợ tín dụng phát triển du lịch cộng đồng và bảo vệ cảnh quan sinh thái, đóng góp tư liệu hữu ích cho công tác quy hoạch phát triển kinh tế biển đảo bền vững gắn với an ninh quốc phòng.