CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Thực tiễn giáo dục ở các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã khẳng định một trong những điều kiện cơ bản nhất để nâng cao chất lượng giáo dục là b ảo đảm chất lượng của GV. Hơn nữ a, s ự c ộng tác gi ữ a GV và tính xã h ộ i, t ậ p th ể trong lao động sư phạm đã đượ c kh ẳng đị nh như một đặ c tính c ủ a ngh ề d ạ y h ọ c trong xã h ộ i hi ện đạ i. Vì thế, vấn đề xây dựng và phát triển ĐNGV t r o n g m ỗ i đ ơ n v ị n h à t r ư ờ n g , c ơ s ở đ à o t ạ o đã sớm được đề cập trong các nghiên cứu lý luận nhằm chỉ đạo thực tiễn hoạt động giáo dục.
Các kết quả nghiên cứu ngày càng làm phong phú thêm kho tàng lý luận về xây dựng và phát triển ĐNGV. Đặc biệt, từ những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, khi các khái niệm “vốn con người” và “nguồn lực con người” xuất hiện và thịnh hành trên toàn thế giới (xuất hiện cuối thập niên 60 bởi nhà kinh tế học người Mỹ Theodor Schoulz, sau đó thịnh hành vào những năm 70, 80 với sự phát triển tiếp nối của nhà kinh tế người Mỹ nhận giải Nobel kinh tế năm 1992 Gary Backer [4]), dường như mọi nghiên cứu đều hướng về vấn đề “phát triển nguồn nhân lực”. Con người được khẳng định là vốn quý của quốc gia: “Của cải đích thực của một quốc gia là con người của quốc gia đó. Và mục đích của phát triển là để tạo ra một môi trường thuận lợi cho phép con người được hưởng cuộc sống lâu dài, mạnh khỏe và sáng tạo”.
Từ đó, vấn đề phát triển ĐNGV được giải quyết với tư cách là phát triển nguồn nhân lực của một ngành, một lĩnh vực. Ở Việt Nam, việc vận dụng các quan điểm chỉ đạo của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên, kết hợp với kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu của thế giới nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn GD ngày càng thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học. Những năm gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu về 8 phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực như: “Quản trị nhân sự” [30]; “Phát triển nguồn lực giáo dục đại học Việt Nam” [14]; “Một số suy nghĩ về quản lý đội ngũ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo đại học” [51], “Từ chiến lược phát triển giáo dục đến chính sách phát triển nguồn lực” [44]. Mỗi công trình nghiên cứu đề cập đến những phía cạnh khác nhau, nhưng đều nhấn mạnh một điểm là: khẳng định vai trò của nguồn nhân lực trong sự phát triển XH; thống nhất cơ bản với những nghiên cứu của thế giới về nội dung quản lý, về phát triển nguồn nhân lực và đề xuất sự vận dụng với những giải pháp rất sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của Việt Nam.
Ở những thập kỷ 80, 90 của thế kỷ XX, đã có những công trình nghiên c ứu về lý luận giáo dục; xuất hiện ngày càng nhiều các bài viết đăng trên các tạp chí, tập san, báo ngành. Nhưng vấn đề lý luận về khoa học quản lý giáo dục, trong đó có quản lý phát triển ĐNGV chưa được nghiên cứu sâu và có hệ thống. Trong giai đoạn này có một số tác giả đề cập đến như: Phạm Minh Hạc (1986, Một số vấn đề về Giáo dục và Khoa học giáo dục, NXB Giáo dục); Nguyễn Kỳ (1987, Mấy vấn đề về quản lý giáo dục, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 34); Đinh Quang Báo (2005, Giải pháp đổi mới phương thức đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên , NXB Giáo dục); Trong những năm gần đây, ngoài những công trình nghiên cứu nêu trên, những luận văn thạc sĩ gần đây được công bố cũng đã đề xuất được những giải pháp khả thi về quản lý, xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên ở từng cấp học, bậc học, tại những địa bàn cụ thể như: “Một số giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ giảng dạy Trường Đại học Sư phạm Hải Phòng đến năm 2010” (2002) của Dương Đức Hùng,“Thực trạng và một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý giảng viên trong Đại học quốc gia Hà Nội” (2002) của Phạm Văn Thuần, “Thực trạng và giải pháp quản lý đội ngũ giảng viên ở trường Cao đẳng Sư phạm Phú Yên”(2006) của Lê Đạt Sơn, v. Như vậy, vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên hiện nay đã thu hút 9 được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều cơ quan, nhiều nhà khoa học.
Các công trình nghiên cứu đã đạt những thành tựu ban đầu trong việc góp phần cải tiến, hoàn thiện hơn công tác quản lý giáo dục của đất nước và của từng cơ sở giáo dục cụ thể. Tuy nhiên, vấn đề quản lý phát triển ĐNGV dạy nghề tại các trường dạy nghề trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc vẫn chưa được quan tâm th ực hiện nghiên cứu đầy đủ, đặc biệt là ở trường CĐN Việt - Đức Vĩnh Phúc. Đó chính là nội dung chính mà đề tài luận văn này cần được nghiên cứu để làm sáng tỏ. Trường Cao đẳng nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân Giáo dục nghề nghiệp, theo nghĩa rộng, bao gồm việc đào tạo các nghề trong đó có cả các nghề phi sản xuất và ở mọi bậc đào tạo kể cả đại học.
Theo nghĩa hẹp, đào tạo nghề nói đến đào tạo cán bộ cho những nghề kỹ thuật sản xuất. Còn thuật ngữ “giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp” (đào tạo nghề) thuộc hệ thống đào tạo những công nhân lành nghề. Nội dung quan trọng nhất là việc dạy thực hành (dạy sản xuất). Đào tạo nghề là quá trình hoạt động có mục đích nhằm hình thành và phát triển hệ thống những kiến thức, kỹ năng, thái độ để gúp người học có năng lực hành nghề và thích ứng với thị trường lao động.
Theo quy định tại Chương II Luật giáo dục năm 2005, Hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam bao gồm 4 loại hình giáo dục sau: Giáo dục mầm non; Giáo dục phổ thông (gồm: Giáo dục tiểu học, Giáo dục trung học cơ sở, Giáo dục trung học phổ thông); Giáo dục nghề nghiệp (gồm: trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề); Giáo dục đại học (gồm: Đào tạo trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ và tiến sĩ) Theo Luật Giáo dục hiện hành, giáo dục nghề nghiệp bao gồm TCCN và đào tạo nghề với ba trình độ: sơ cấp, trung cấp, cao đẳng. Dạy nghề được thực hiện dưới một năm đối với đào tạo nghề trình độ sơ cấp, từ một đến ba năm đối với đào tạo nghề trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng. Như vậy hệ thống giáo dục nghề nghiệp của ta có hai loại trường trung cấp và hai loại trường cao đẳng với mục tiêu đào tạo gần như nhau. Về quản lý hệ thống, lại có tới hai cơ quan cùng quản lý nhà nước là Bộ GD&ĐT và Bộ LĐTB&XH.
Bên cạnh đó các bộ 10 ngành và các địa phương đều quản lý trực tiếp một số trường trực thuộc. Trường CĐN là cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc Hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, có mục tiêu đào tạo công nhân kỹ thuật trình độ cao đẳng và trung cấp nghề. Với bằng cao đẳng nghề hay trung cấp nghề, học sinh có thể ra hành nghề ngày hoặc có thể thi vào các trường đại học có chuyên ngành đào tạo tương ứng. Theo Điều 6 và Điều 7 của Điều lệ trường CĐN quy định nhiệm vụ và quyền hạn trường CĐN như sau: - Nhiệm vụ: + Tổ chức đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ ở các trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề và sơ cấp nghề nhằm trang bị cho người học năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đạo đức lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, tạo điều kiện cho họ có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu thị trường lao động.
+ Tổ chức xây dựng, duyệt và thực hiện các chương trình, giáo trình, học liệu dạy nghề đối với ngành nghề được phép đào tạo. + Xây dựng kế hoạch tuyển sinh, tổ chức tuyển sinh học nghề. + Tổ chức các hoạt động dạy và học; thi, kiểm tra, công nhận tốt nghiệp, cấp bằng, chứng chỉ nghề theo quy định của Bộ trưởng Bộ LĐ, TB&XH. + Tuyển dụng, quản lý đội ngũ giáo viên, cán bộ, nhân viên của trường đủ về số lượng; phù hợp với ngành nghề, quy mô và trình độ đào tạo theo quy định của pháp luật.
+ Tổ chức NCKH; ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ; thực hiện sản xuất, kinh doanh và dịch vụ khoa học, kỹ thuật theo quy định của pháp luật. + Tư vấn học nghề, tư vấn việc làm miễn phí cho người học nghề. + Tổ chức cho người học nghề tham quan, thực tập tại doanh nghiệp. + Phối hợp với các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, gia đình người học nghề trong hoạt động dạy nghề.
11 + Tổ chức cho giáo viên, cán bộ, nhân viên và người học nghề tham gia các hoạt động xã hội. + Thực hiện dân chủ, công khai trong việc thực hiện các nhiệm vụ dạy nghề, nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ vào dạy nghề và hoạt động tài chính. + Đưa nội dung giảng dạy về ngôn ngữ, phong tục tập quán, pháp luật có liên quan của nước mà người lao động đến làm việc và pháp luật có liên quan của Việt Nam vào chương trình dạy nghề khi tổ chức dạy nghề cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. + Quản lý, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, thiết bị và tài chính của trường theo quy định của pháp luật.
+ Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và đột xuất theo quy định. + Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật. - Quyền hạn: + Được chủ động xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển nhà trường phù hợp với chiến lược phát triển dạy nghề và quy hoạch phát triển mạng lưới các trường cao đẳng nghề.