CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ INTERNET BANKING 1.NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN 1.Khái niệm phát triển Phát triển dùng để chỉ quá trình vận động của sự vật theo khuynh hướng đi lên: từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Như vậy, khái niệm phát triển không đồng nhất với khái niệm “vận động” nói chung, đó không phải là sự biến đổi tăng lên hay giảm đi đơn thuần về lượng hay sự biến đổi tuần hoàn lặp đi lặp lại ở chất cũ ,à là biến đổi về chất theo hướng ngày càng hoàn thiện của sự vật ở những trình độ phát triển ngày càng cao hơn. Phát triển cũng có quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật, là quá trình thống nhất giữa phủ định các nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao những nhân tố tích cực từ sự vật cũ trong hình thái mới của sự vật.Tính chất của sự phát triển Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, phát triển cũng có ba tính chất cơ bản: Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú. Sự phát triển bao giờ cũng mang tính khách quan.
Bởi vì, như trên đã phân tích theo quan điểm duy vật biện chứng, nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật. Đó là quá trình giải quyết liên tục những mâu thuẫn này sinh trong sự tồn tại và vận động của sự vật. Nhờ đó sự vật luôn luôn phát triển. Vì thế sự phát triển là tiến trình khách quan, không phụ thuộc vào ý thức của con người.
Sự phát triển mang tính phổ biến. Tính phổ biến của sự phát triển được hiểu là nó diễn ra ở mọi lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy; ở bất cứ sự 5 vật, hiện tượng nào của thế giới khách quan. Ngay cả các khái niệm, các phạm trù phản ảnh hiện thực cũng nằm trong quá trình vận động và phát triển; chỉ trên cơ sở của sự phát triển, mọi hình thức của tư duy, nhất là các khái niệm và các phạm trù, mới có thể phản ánh đúng đắn hiện thực luôn vận động và phát triển. Sự phát triển còn có tính đa dạng, phong phú.
Phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, hiện tượng, song mỗi sự vật, hiện tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau. Tồn tại ở không gian khác nhau, ở thời gian khác nhau, sự vật sẽ phát triển khác nhau. Đồng thời trong quá trình phát triển của mình, sự vật còn chịu sự tác động của các sự vật, hiện tượng khác, của rất nhiều yếu tố, điều kiện. Sự tác động đó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của sự vật, đôi khi có thể làm thay đổi chiều hướng phát triển của sự vật, thậm chí làm cho sự vật thụt lùi.
Chẳng hạn, nói chung, ngày nay trẻ em phát triển nhanh hơn cả về thể chất lẫn trí tuệ so với trẻ em ở các thế hệ trước do chúng được thừa hưởng những thành quả, những điều kiện thuân lợi mà xã hội mang lại. Trong thời đại hiện nay, thời gian công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước của các quốc gia chậm phát triển và kém phát triển sẽ ngắn hơn nhiều sơ với các quốc gia đã thực hiện chúng do đã thừa hưởng kinh nghiệm và sự hỗ trợ của các quốc gia đi trước. Song vấn đề còn ở chỗ, sự vận dụng kinh nghiệm và tận dụng sự hỗ trợ đó như thế nào lại phụ thuộc rất lớn vào những nhà lãnh đạo và nhân dân của các nước này. Những điều kiện nêu ra ở trên cho thấy, dù sự vật hiện tượng có thể có những giai đoạn vận động đi lên khác nhau nhưng xem xét toàn bộ quá trình thì chúng vẫn tuân theo khuynh hướng phát triển chung.Ý nghĩa Nguyên lý về sự phát triển cho thấy trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn con người phải tôn trọng quan điểm phát triển.
Quan điểm phát triển đòi hỏi khi nhận thức, khi giải quyết một vấn đề nào 6 đó con người phải đặt chúng ở trạng thái động, nằm trong khuynh hướng chung là phát triển. Quan điểm phát triển đòi hỏi không chỉ nắm bắt những cái hiện đang tồn tại ở sự vật, mà còn phải thấy rõ khuynh hướng phát triển trong tương lai của chúng, phải thấy được những biến đổi đi lên cũng như những biến đổi có tính chất thụt lùi. Song điều cơ bản là phải khái quát những biến đổi để vạch ra khuynh hướng biến đổi chính của sự vật. Xem xét theo quan điểm phát triển còn phải biết phân chia quá trình phát triển của sự vật ấy thành những giai đoạn.
Trên cơ sở ấy để tìm ra phương pháp nhận thức và cách tác động phù hợp nhằm thúc đẩy sự vật tiến triển nhanh hơn hoặc kìm hãm sự phát triển của nó, tùy theo sự phát triển đó có lợi hay có hại đối với đời sống của con người. Quan điểm phát triển góp phần khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ DỊCH VỤ INTERNET-BANKING 1.Đối tượng khách hàng Cá nhân là người Việt Nam hoặc người nước ngoài (có cư trú) có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định Pháp luật hiện hành. Người có năng lực hành vi dân sự và từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được người đại diện theo pháp luật của người đó chấp nhận về việc sử dụng kênh dịch vụ Internet-banking.
Tổ chức là đơn vị có tư cách pháp nhân.Tính năng dịch vụ Dịch vụ Internet-banking có các tính năng cơ bản sau: Truy vấn thông tin: - Tra cứu thông tin tài khoản và số dư tài khoản - Tra cứu sao kê tài khoản theo thời gian - Tra cứu thông tin của các loại thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ 7 Thanh toán: - Thanh toán chuyển khoản trong hệ thống - Thanh toán chuyển khoản ngoài hệ thống - Thanh toán hóa đơn hàng hóa dịch vụ (hóa đơn điện, nước, du lịch…) Đăng ký thay đổi yêu cầu sử dụng các dịch vụ khác: Thông qua dịch vụ Internet-banking, khách hàng có thể đăng ký sử dụng hoặc yêu cầu thay đổi các dịch vụ điện tử khác như SMS-banking, Phone-banking, Dịch vụ nhận sao kê tài khoản hàng tháng qua mail…và nhiều tiện ích khác của ngân hàng.Quy trình đăng ký sử dụng dịch vụ Quy trình đăng ký sử dụng dịch vụ Internet-banking tùy theo yêu cầu cụ thể của từng ngân hàng, nhưng nhìn chung gồm các bước sau: - Mở tài khoản tại ngân hàng (nếu chưa có tài khoản). - Điền thông tin vào mẫu Đăng ký sử dụng dịch vụ tại điểm giao dịch của ngân hàng. - Sau khi nhận được mẫu Đăng ký sử dụng dịch vụ, ngân hàng sẽ cung cấp Mã truy cập và Mật khẩu truy cập tạm thời. Ở lần đăng nhập sử dụng đầu tiên, phải thay đổi mật khẩu tạm thời để kích hoạt sử dụng dịch vụ.PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ INTERNET BANKING 1.Khái niệm phát triển dịch vụ Internet Banking Phát triển dịch vụ internet banking là mở rộng dịch vụ Internet Banking về quy mô đồng thời gia tăng chất lượng dịch vụ.
Sự phát triển được phân tích trên 2 khía cạnh: phát triển về chiều rộng và phát triển về chiều sâu. Phát triển theo chiều rộng đồng nghĩa với việc đa dạng hóa các loại hình dịch vụ Internet Banking. Phát triển theo chiều sâu đồng nghĩa với việc gia tăng về danh mục sản phẩm dịch vụ kết hợp với nâng cao chất lượng dịch vụ.Quan điểm phát triển dịch vụ Internet Banking Theo sổ tay kiểm soát viên (Comptroller of the Currency (1999), 8 Internet Banking, Comptroller’s Handbook , Washington.) thì việc phân loại các cấp độ phát triển của Internet Banking sẽ giúp cho các thẩm tra viên đánh giá dễ dàng các rủi ro liên quan. Hiện nay, Internet Banking có ba loại cơ bản sau đây: Cấp độ 1: Cung cấp thông tin cơ bản Đây là cấp độ cơ bản nhất của Internet Banking.
Hình thức thông tin một chiều, ở hình thức này ngân hàng cung cấp các thông tin cơ bản về sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng cho khách hàng trên website, toàn bộ các thông tin này được lưu trữ trên máy chủ hoàn toàn độc lập với hệ thống dữ liệu của ngân hàng. Ngân hàng có thế tự cung cấp dịch vụ Internet Banking này hay thuê một đơn vị khác. Ở cấp độ này mức độ rủi ro thấp do không có sự liên kết giữa máy chủ Internet Banking với mạng nội bộ của ngân hàng nhưng các website này cũng thường là mục tiêu phá hoại của hacker điều này sẽ làm tổn hại đến danh tiếng của ngân hàng khi website của ngân hàng mình bị tấn công. Cấp độ 2: Cung cấp các giao dịch cơ bản Ở cấp độ này Internet banking cho phép một số tương tác giữa hệ thống của ngân hàng và khách hàng.
Các tương tác có thể chỉ giới hạn ở thư điện tử, truy vấn thông tin tài khoản, xin cấp tín dụng, hay cập nhật dữ liệu (thay đổi tên và địa chỉ), nhưng chưa thực hiện bất kỳ thanh toán nào qua tài khoản. Ở cấp độ này rủi ro cao hơn cấp độ 1 do các máy chủ Internet Banking có thể kết nối với mạng nội bộ của ngân hàng. Những rủi ro này dao động từ thấp đến trung bình phụ thuộc vào kết nối giữa mạng Internet và mạng nội bộ và các ứng dụng mà khách hàng có thể truy cập Cấp độ 3: Cung cấp các giao dịch cao cấp Thông qua internet/trang web, cho phép khách hàng thực hiện các giao dịch trực tuyến như chuyển khoản tài khoản trong hoặc ngoài hệ thống, thanh toán hóa đơn và tiến hành các giao dịch tài chính khác. Ở cấp độ này rủi ro cao nhất hệ thống Internet của ngân hàng có thể bị các cuộc tấn công bên trong hoặc bên ngoài 9 nếu việc kiểm soát không đủ mạnh vì lúc này máy chủ được kết nối với mạng nội bộ của ngân hàng hoặc đơn vị gia công phần mềm do đó yêu cầu về an ninh rất nghiêm ngặt ở mức độ này.
Hạn chế của dịch vụ Internet Banking Chi phí đầu tư ban đầu vào hệ thống máy tính là không nhỏ. Hơn nữa, đòi hỏi một trình độ kiến thức nhất định của người sử dụng. Có những thông tin mà dịch vụ Internet Banking không thể cung cấp đầy đủ và kịp thời cho khách hàng như khi khách hàng giao dịch với nhân viên ngân hàng. Để đầu tư vào một hệ thống giao dịch điện tử thì cần một lượng vốn ban đầu khá lớn vềcơ sở vật chất, đào tạo nhân viên, phát triển phần mềm.
Rủi ro bảo mật an ninh (hệ thống bị xâm nhập, lừa đảo, giả mạo thanh toán,…).