phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung cơ bản của khóa luận đƣợc chia thành 3 chƣơng” 4 c CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG 1.Một số vấn đề chung về phát triển bền vững 1.Quan niệm về phát triển bền vững Phát triển kinh tế là quy luật chung của mọi thời đại, tăng trƣởng kinh tế để cải thiện mức sống là mục tiêu quan tâm của các quốc gia. Tăng trƣởng kinh tế là điều kiện vật chất đầu tiên để xóa đói giảm nghèo tạo việc làm, cải thiện, nâng cao chất lƣợng cuộc sống, phát triển y tế - văn hóa - giáo dục. Một số nƣớc thƣờng nhấn mạnh tăng trƣởng nhanh, đẩy mạnh tốc độ. Khi mức tăng trƣởng đạt đến trình độ cao sẽ tập trung vào các chính sách về xã hội.
Thực tế thì kinh tế không phải lúc nào cũng đi liền với sự phát triển con ngƣời và xã hội. “Nếu chỉ quan tâm đến phát triển kinh tế sẽ gây ra các hậu quả: tăng trƣởng kinh tế nhanh sẽ không đảm bảo đƣợc sự công bằng xã hội, sự chênh lệch giàu nghèo, chênh lệch mức sống, tạo ra sự bất bình đẳng. tăng trƣởng kinh tế theo hƣớng phát triển công nghiệp, nhƣng kinh tế nông thôn không đƣợc chú trọng, phát triển không đồng đều giữa kinh tế các vùng miền, giữa thành thị và nông thôn. Nhƣ vậy ta có thể thấy rằng giữa tăng tƣởng kinh tế và phát triển kinh tế có mối quan hệ mật thiết với nhau, muốn phát triển kinh tế phải có tăng trƣởng kinh tế nhƣng không phải sự tăng trƣởng kinh tế nào cũng là sự phát triển kinh tế.” Ngoài ra, mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội thể hiện bằng sự tăng lên của thu nhập thực tế, chất lƣợng cuộc sống, chất lƣợng y tế - giáo dục.
Trong quá trình sản xuất, chúng ta nhận thấy không chỉ có mối liên hệ chặt chẽ giữa phát kinh tế - công bằng xã hội, mà chúng ta còn phải đối diện với những hậu quả do mình gây ra đối với môi trƣờng: sự nóng lên của trái đất, suy thoái đa dạng sinh học, thiên tai, sự thất thƣờng của thời tiết,… Vì vậy, khi phát triển phải gắn với môi trƣờng, với các mối quan hệ xã hội giữa con ngƣời với con ngƣời. Nhiều hội nghị quốc tế đƣợc họp bàn để bàn về những vấn đề tƣơng lai chung của nhân loại, trong đó các hội nghị đều đạt 5 c đƣợc bƣớc tiến rất quan trọng về nhận thức là phải làm thế nào để kinh tế thế giới có sự phát triển bền vững. Thuật ngữ “Phát triển bền vững” có rất nhiều các định nghĩa, cách hiểu khác Ủy ban thế giới về Môi trƣờng đã đƣa ra đĩnh nghĩa về phát triển bền vững là: “Sự phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng làm thỏa mãn nhu cầu của chính các thế hệ mai sau” [15, tr 175] “Tổ chúc ngân hàng phát triển Châu Á định nghĩa cụ thể hơn: “Phát triển bền vững là loại hình phát triển mới, lồng ghếp quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên và nâng cao chất lƣợng môi trƣờng. Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hẹ hiện tại mà không làm phƣơng hại đến khả năng của chúng ta đáp ứng các nhu cầu của thế hệ trong tƣơng lai.”[15,tr 175]” “Phát triển bền vững là phát triển kinh tế- xã hội lành mạnh, dựa trên việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại nhƣng không làm ảnh hƣởng bất lại cho thế hệ mai sau.” “Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế- xã hội với tốc độ tăng trƣởng cao liên tục trong thời gian dài dựa trên việc sử dụng hiệu quả cao nguồn tài nguyên thiên nhiên mà vẫn bảo vệ đƣợc môi trƣờng sinh thái.
Phát triển kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội hiện tại, song không làm cạn kiệt tài nguyên, để lại hậu quả về môi trƣờng cho tƣơng lai.” “Phát triển bề vững là sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hái hòa giữa 3 mặt của sự phát triển. Đó là: phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trƣờng.” “Phát triển bền vững về kinh tế đƣợc hiểu là sự tiến bộ mọi mặt của nề kinh tế thể hiện ở quá trình tăng trƣởng kinh tế cao, ổn định và sự thay đổi về chất của nền kinh tế gắn với quá trình tăng năng suất lao động. mục tiêu của phát triển bền vững kinh tế là đạt đƣợc sự tăng trƣởng ổn định, với cơ cấu hợp lý, đáp ứng đƣợc yêu cầu nâng cao đời sống của ngƣời dân, tránh đƣợc sự suy thoái trong tƣơng lai, tránh gây nợ nần cho thế hệ mai sau.[15, tr 175]” 6 c “Phát triển bền vững về xã hội là quá trình phát triển đạt đƣợc kết quả ngày càng cao trong công việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Đảm bảo chế độ dinh dƣỡng và chăm sóc sức khỏe cho ngƣời dân, mội ngƣời đều có cơ hội trong giáo dục, có việc làm, giảm tình trạng đói nghèo nâng cao tình độ văn minh về đời sống vật chất và tinh thần cho mọi thành viên của xã hội.” “Phát triển bền vững về môi trƣờng là khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý kịp thời hậu qur ô nhiễm môi trƣờng.
Cần chú ý các khía cạnh sau: tăng trƣởng kinh tế không làm ô nhiêm, suy thoái, hủy hoại môi trƣờng, tăng trƣởng kinh tế phải dựa trên cơ sở khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm, sử dụng công nghệ tiên tiến hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trƣờng.” Nhƣ vậy, để phát triển bền vững là tăng trƣởng kinh tế trong thời gian dài, tăng trƣởng kinh tế đi đối với giải quyết các vấn đè xã hội bảo vệ cải thiện môi trƣờng và tăng trƣởng kinh tế vì con ngƣời.Quan niệm phát triển bền vững ở Việt Nam Phát triển bền vững trong điều kiện hội nhập kinh tế là vấn đề mang tính chất toàn cầu, là mục tiêu phấn đấu của mọi quốc gia. Chiến lƣợc phát triển bền vững của mỗi quốc gia đƣợc xây dựng và hình thành dựa trên cơ sở điều kiện lịch sử, hoàn hoàn của từng nƣớc. “Ngày 17-8-2004, Việt Nam đã có quyết định số 153/2004/QĐ-TTg phê duyệt và ban hành “Định hƣớng phát triển bền vững ở Việt Nam” (Chƣơng trình nghị sự 21 của Việt Nam) nhằm phát triển bền vững đất nƣớc trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trƣờng.” Những nguyên tắc phát triển bền vững ở Việt Nam gồm 8 nguyên tắc: “Con ngƣời là trung tâm của phát triển bền vững” “Coi phát triển klinh tế là nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn phát triển sắp tới, đảm bảo an ninh lƣơng thực, năng lƣợng để phát triển bền vững, kết hợp chặt chẽ hợp lý hài hòa với phát triển xã hội, khai thác hợp lý sử dụng hiệu quả tài nguyên thien nhiên trong giới hạn cho phép.” 7 c “Bảo vệ và cải thiện chất lƣợng môi trƣờng phải đƣợc coi là một yếu tố không thể tách rời của quá trình phát triển.” “Quá trình phát triển phải đảm bảo đáp ứng 1 cách công bằng nhu cầu của thế hệ hiện tại và không gây trở ngại tới cuộc sống của thế hệ mai sau” “Khoa học công nghệ là nền tảng động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy phát triển nhanh mạnh và bền vững đât nƣớc” “Phát triển bền vững là sự nghiệp của toàn Đảng, các cấp chính quyền, của các cơ quan doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cƣ và mọi ngƣời dân.” “Gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế đọc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế đẻ phát triển bền vững đất nƣớc.” “Kêt hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trƣờng với đảm bảo quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội.[20]” “Trên cơ sở 8 nguyên tắc định hƣớng phát triển bền vững ở Việt Nam gồm 5 phần: Phát triển bền vững- con đƣờng tất yếu ở Việt Nam Những lĩnh vực kinh tế cần ƣu tiên nhằm phát triển bền vững Những lĩnh vực xã hội cần ƣu tiên nhằm phát triển bền vững Những lĩnh vực sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trƣờng và kiểm soát ô nhiễm môi trƣờng Tổ chức thực hiện phát triển bền vững bao gồm 3 lĩnh vực chính: hoàn thiện vai trò lãnh đạo của nhà nƣớc trong lĩnh vực tổ chức thực hiện phát triển bèn vững; huy động toàn dân tham gia thực hiện phát triển bền vững; hợp tác quốc tế để phát triển bền vững.[17] Đại hội Đảng lần thứ IX khẳng định: phát triển nhanh hiệu quả và bền vững, tăng trƣởng kinh tế đi đối với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trƣờng. Nƣớc ta đi lên Chủ nghĩa xã hội từ một nƣớc nông nghiệp nên phát triển kinh tế nông thôn có ý nghĩa rất quan trọng.
Làng nghề nói chung và làng 8 c nghề truyền thống nói riêng là bộ phận không thể tách rời kinh tế nông thôn, trong đƣờng lối phát triển kinh tế của nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đã đƣa ra vấn đề “Phát triển bền vững các làng nghề”[ 13, tr 194]” 1.Một số vấn đề chung về làng nghề truyền thống 1.Khái niệm làng nghề Làng nghề là một thuật ngữ dùng để chỉ các cộng đồng dân cƣ, chủ yếu ở các vùng ngoại ô thành phố, vùng nông thôn Việt Nam, có truyền thống sản xuất các sản phẩm thủ công truyền thống, cùng chủng loại. Các làng nghề thƣờng mang tính truyền thống đặc sắc, đặc trƣng, không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn mang giá trị văn hóa, du lịch. Làng nghề đƣợc cấu tạo bởi hai nhân tố là “làng” , “nghề”. Vì thế khái niệm sẽ đƣợc hiểu thông qua việc phân tích hai khái niệm “làng” và “nghề”.
“Làng nghề là một mô hình kinh tế ở nông thôn, đƣợc tạo bởi hai thành tố “làng” và “nghề”, tồn tại trong cùng một không gian địa lý nhất định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nguồn thu nhập chủ yếu là từ làm các nghề thủ công, giữa họ có một mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa.” “Làng” theo từ điển tiếng Việt là một khối ngƣời quần tụ ở một nơi nhất định trong nông thôn. “Làng là một tế bào xã hội của ngƣời Việt, là một tập hợp dân cƣ chủ yếu theo quan hệ láng giềng.