Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Phát triển kinh tế làng nghề truyền thống giữ vị trí quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc tại vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. Huyện Phú Xuyên (nằm ở phía Nam thành phố Hà Nội, cách trung tâm khoảng 40 km) là địa phương có nền tảng thuần nông nhưng sở hữu 78 làng nghề, trong đó có 40 làng nghề được Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội công nhận là làng nghề truyền thống. Trong đó, xã Phú Túc là điểm sáng nổi bật với nghề đan cỏ tế, mây tre đan có lịch sử hơn 300 năm. Hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp tại đây đã tạo việc làm cho phần lớn lao động địa phương và các xã phụ cận.

Tuy nhiên, phần lớn hoạt động sản xuất tại xã Phú Túc vẫn vận hành theo quy mô kinh tế hộ gia đình nhỏ lẻ, tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng, công nghệ lạc hậu, thiếu mặt bằng sản xuất và đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Xuất phát từ bối cảnh đó, đề tài "Thực trạng và giải pháp phát triển bền vững làng nghề Phú Túc (huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội) hiện nay" được tác giả thực hiện nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế làng nghề và bảo vệ môi trường, an sinh xã hội.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là hệ thống hóa lý luận chung về bảo tồn và phát triển bền vững làng nghề truyền thống, phân tích thực trạng cùng những hạn chế tại xã Phú Túc, từ đó đề xuất các nhóm giải pháp phát triển bền vững trong giai đoạn tiếp theo.

Nhiệm vụ nghiên cứu được tác giả xác định cụ thể gồm 3 nhiệm vụ:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển làng nghề làm khung nội dung và phương pháp nghiên cứu cho đề tài.
  2. Đánh giá thực trạng làng nghề xã Phú Túc; chỉ rõ mặt mạnh, điểm yếu, nguyên nhân và các tồn tại về mặt chính sách tác động đến quá trình bảo tồn, phát triển.
  3. Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm bảo tồn và phát triển bền vững làng nghề xã Phú Túc trong những năm tới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các làng nghề trên địa bàn xã Phú Túc.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Phú Túc, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát và thu thập dữ liệu từ năm 2008 đến thời điểm hoàn thành khóa luận (năm 2019).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các quan điểm về phát triển bền vững và quản lý ngành nghề nông thôn:

  • Khung lý thuyết về phát triển bền vững: Tiếp cận định nghĩa của Ủy ban Thế giới về Môi trường (WCED) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), nhấn mạnh sự kết hợp hài hòa giữa 3 trụ cột: tăng trưởng kinh tế, công bằng - tiến bộ xã hội và bảo vệ tài nguyên - môi trường sinh thái.
  • Văn bản định hướng chính sách của Nhà nước: Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ ban hành "Định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam" (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) với 8 nguyên tắc cốt lõi; đường lối của Đảng tại Nghị quyết Đại hội IX và Đại hội X về phát triển bền vững kinh tế làng nghề nông thôn.
  • Khái niệm và tiêu chí làng nghề: Áp dụng khung tiêu chí xác định làng nghề và làng nghề truyền thống theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (hướng dẫn thực hiện Nghị định số 66/2006/NĐ-CP của Chính phủ). Để được công nhận làng nghề truyền thống, nghề phải tồn tại trên 50 năm, tạo ra sản phẩm mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và gắn với tên tuổi nghệ nhân hoặc danh tiếng làng nghề.
  • Khung tổ chức sản xuất: Phân tích 4 mô hình kinh tế trong làng nghề gồm: kinh tế hộ gia đình (chiếm trên 90%), tổ hợp sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp tư nhân/công ty trách nhiệm hữu hạn.

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm: phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phương pháp quy nạp và diễn dịch, phương pháp logic kết hợp với lịch sử, đi từ trừu tượng đến cụ thể.

Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm: số liệu thống kê kinh tế - xã hội của Ủy ban nhân dân xã Phú Túc (giai đoạn 2008 - 2018); báo cáo chuyên môn của Sở Công Thương thành phố Hà Nội; số liệu điều tra của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; thông tin dịch tễ từ Trạm Y tế xã Phú Túc; báo cáo môi trường tại Hội thảo khoa học do Viện Khoa học Công nghệ và Môi trường (Trường Đại học Bách khoa Hà Nội) phối hợp cùng Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững làng nghề truyền thống

Chương 1 tập trung làm rõ các khái niệm nền tảng về làng, nghề, làng nghề và tiêu chuẩn công nhận làng nghề truyền thống theo quy định pháp lý. Tác giả phân tích tính đặc thù của làng nghề truyền thống: công cụ chủ yếu là thủ công, công nghệ mang tính chất bí truyền, phương thức truyền nghề chủ yếu theo hình thức cha truyền con nối và truyền khẩu. Mô hình tổ chức sản xuất hộ gia đình chiếm tỷ trọng áp đảo (>90%), có ưu điểm tận dụng tối đa lao động nhàn rỗi thuộc mọi lứa tuổi nhưng mang nhược điểm cố hữu là quy mô manh mún, thiếu mặt bằng và hạn chế về năng lực quản trị.

Tác giả hệ thống hóa ba nhóm nhân tố tác động trực tiếp đến phát triển bền vững làng nghề gồm: nhóm nhân tố xã hội (chính sách pháp luật, phong tục tập quán), nhóm nhân tố kinh tế (cơ sở hạ tầng, nguồn vốn đầu tư) và nhóm nhân tố môi trường (nguồn nguyên liệu tự nhiên, công nghệ xử lý chất thải).

Về vai trò kinh tế - xã hội, nghề đan cỏ tế Phú Túc sau hơn 300 năm đã tạo ra danh mục hơn 1.000 mẫu sản phẩm. Nghề thủ công này huy động được từ trẻ nhỏ 6-7 tuổi đến người cao tuổi gần 100 tuổi, tạo mức thu nhập bình quân khoảng 20.000 đồng/người/ngày thời kỳ đầu. Đồng thời, chương 1 dẫn chứng các con số cảnh báo về môi trường từ Hội thảo của Bộ Khoa học và Công nghệ: 100% mẫu nước thải tại các làng nghề khảo sát đều vượt tiêu chuẩn cho phép, gây ô nhiễm các dòng sông (tiêu biểu như sông Nhuệ) và hủy hoại đất canh tác nông nghiệp.

Chương 2: Thực trạng hoạt động phát triển bền vững làng nghề truyền thống Phú Túc (huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội)

Chương 2 mô tả chi tiết điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Phú Túc:

  • Vị trí và địa giới: Nằm phía Tây huyện Phú Xuyên, tiếp giáp xã Hoàng Long (phía Nam), xã Tri Trung (phía Đông), xã Quảng Phú Cầu thuộc huyện Ứng Hòa (phía Tây) và xã Hồng Dương thuộc huyện Thanh Oai (phía Bắc). Xã có trục giao thông chính dài 4,2 km, rộng 2,5 km; diện tích đất tự nhiên là 752,16 ha (trong văn bản tác giả ghi diện tích canh tác lúa nước là 5.560 ha).
  • Cơ cấu dân cư và tổ chức: Toàn xã có 8 thôn gồm: Trình Viên, Đương La, Phú Túc, Tư Sả, Lưu Thượng, Lưu Đông, Lưu Xá, Hoàng Xá. Cả 8 thôn đều được công nhận là làng nghề, riêng Lưu Thượng là làng nghề truyền thống chuyên mây tre đan cỏ tế. Xã có 2.527 hộ với 9.525 nhân khẩu; Đảng bộ gồm 307 đảng viên sinh hoạt tại 15 chi bộ. Cơ cấu dân số có tỷ lệ nữ chiếm 60,59%, nam chiếm 39,41% (năm 2015).

Sự thay đổi kinh tế - xã hội của xã Phú Túc trong giai đoạn 2008 - 2018 được thể hiện qua bảng số liệu tổng hợp sau:

Chỉ tiêu kinh tế - xã hội Năm 2008 Năm 2018
Tổng giá trị thu nhập toàn xã ~98 tỷ đồng >438 tỷ đồng
Thu nhập bình quân đầu người 12 triệu đồng/năm 44 triệu đồng/năm
Giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp làng nghề Chưa tách riêng 237,6 tỷ đồng (tăng 14% so với năm 2017)
Tỷ trọng Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp - Xây dựng - 61,3%
Tỷ trọng Nông nghiệp - Chăn nuôi - 25,9%
Tỷ trọng Thương mại - Dịch vụ - 12,8%
Tỷ lệ lao động thường xuyên có việc làm - 97%
Chuẩn nông thôn mới Đang thực hiện Đạt 19/19 tiêu chí (được công nhận năm 2017)

Toàn xã có 9 doanh nghiệp lớn, 20 tổ hợp sản xuất và hàng trăm hộ cá thể, thu hút trên 70% lực lượng lao động địa phương và hàng trăm lao động các vùng lân cận. Hoạt động du lịch làng nghề bước đầu hình thành: từ năm 2016 đến thời điểm khảo sát đã đón hơn 150 đoàn khách trong và ngoài nước với gần 2.000 lượt người tham quan.

Bên cạnh thành tựu, tác giả phân tích các hạn chế và nguyên nhân trên cả 3 phương diện:

  • Kinh tế: Phát triển theo chiều rộng, giá trị gia tăng chưa tương xứng. Khó khăn lớn nhất là tiếp cận nguồn vốn. Doanh nghiệp và hộ sản xuất không có tài sản thế chấp và thiếu hóa đơn chứng từ đầu vào, dẫn đến không thể tiếp cận các gói kích cầu hỗ trợ lãi suất của Chính phủ (như Quyết định 131/QĐ-TTg ngày 23/1/2009 hỗ trợ lãi suất 4% và Quyết định 443/QĐ-TTg ngày 4/4/2009 hỗ trợ vay trung - dài hạn). Nhiều cơ sở phải vay tín dụng phi chính thức với lãi suất cao (năm 2008 lãi suất biến động từ 1% lên đỉnh điểm 1,75%/tháng). Khó khăn thứ hai là mặt bằng sản xuất; tiến độ xây dựng Cụm công nghiệp làng nghề Phú Túc theo Quyết định 2954/QĐ-UBND (tại khu 17 mẫu cánh đồng Soi, thôn Lưu Thượng) còn chậm. Bộ máy hành chính cấp xã thiếu biên chế chuyên trách quản lý công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp.
  • Xã hội: Đội ngũ nghệ nhân già yếu, lớp thợ trẻ thiếu hụt tay nghề; tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt 24,2%; có 66,3% cơ sở thiếu công nghệ hiệu quả. Tiền công lao động thấp khiến lao động trẻ có xu hướng ly hương. Xuất hiện tình trạng học sinh bỏ học sớm sau bậc trung học cơ sở để làm nghề. Đa số người lao động làm thuê không có hợp đồng lao động, không được đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.
  • Môi trường: Ô nhiễm nghiêm trọng do quy trình sản xuất thủ công diễn ra ngay trong khuôn viên sinh hoạt hộ gia đình. Các công đoạn sơ chế sử dụng lưu huỳnh để hun sấy chống mốc; dùng bể hóa chất xút (NaOH) tẩy trắng song mây; ngâm nhúng keo dầu tạo độ bóng bền và phun sơn công nghiệp. Nước thải chứa kim loại nặng (Hg, Pb, Cr, Zn), xyanua và axit xả trực tiếp ra hệ thống mương rãnh, làm đen nguồn nước mặt và ô nhiễm tầng nước ngầm nông. Không khí bị ô nhiễm bởi khí độc SO2, CO2, NOx, bụi sợi và tiếng ồn. Trạm Y tế xã Phú Túc ghi nhận từ năm 2008 tỷ lệ mắc bệnh ung thư, viêm đường hô hấp và suy giảm thị lực ở lứa tuổi trung niên tăng cao đột biến so với các xã thuần nông lân cận.

Chương 3: Một số định hướng và giải pháp nhằm phát triển bền vững làng nghề truyền thống Phú Túc (huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội) hiện nay

Tác giả đề xuất các yêu cầu mang tính nguyên tắc cho công tác bảo tồn và phát triển làng nghề:

  • Quán triệt quan điểm "Truyền thống hóa công nghệ hiện đại và hiện đại hóa công nghệ truyền thống": cơ giới hóa và ứng dụng công nghệ hiện đại ở các khâu chuẩn bị nguyên liệu, xử lý độ bền, sấy khô sản phẩm; tuyệt đối giữ gìn kỹ năng đan lát thủ công tinh xảo của nghệ nhân, không thay thế đôi bàn tay người thợ bằng máy móc hàng loạt.
  • Gắn kết quy hoạch sản xuất làng nghề với quy hoạch bảo vệ môi trường, phát triển nông thôn mới theo phương châm "ly nông bất ly hương".
  • Đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, định hướng sản xuất theo tín hiệu thị trường, loại bỏ các mẫu mã lỗi thời và khôi phục những sản phẩm truyền thống giàu giá trị văn hóa.
  • Phát triển mô hình du lịch làng nghề gắn với hệ thống di tích (9 đình, 9 chùa, 4 miếu) và các lễ hội truyền thống nhằm nâng cao giá trị thặng dư.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đưa ra các kết quả định lượng cụ thể về thực trạng phát triển của làng nghề Phú Túc trong giai đoạn 2008 - 2018:

  • Xác lập bức tranh chuyển dịch kinh tế: Giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp đạt 237,6 tỷ đồng (năm 2018), kéo giảm tỷ trọng nông nghiệp xuống 25,9% và nâng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng lên 61,3%. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 12 triệu đồng/năm (2008) lên 44 triệu đồng/năm (2018).
  • Đánh giá khả năng giải quyết việc làm: Duy trì tỷ lệ lao động có việc làm đạt 97%, giải quyết 8-10 lao động thời vụ trên mỗi cơ sở sản xuất và 2-5 lao động nhàn rỗi tại mỗi hộ gia đình.

Hệ thống giải pháp và kiến nghị được tác giả đề xuất:

  • Giải pháp tài chính - tín dụng: Đơn giản hóa thủ tục thế chấp vay vốn cho các hộ kinh doanh cá thể; xây dựng cơ chế chấp nhận tài sản bảo đảm linh hoạt, tạo điều kiện cho các cơ sở không có hóa đơn đỏ tiếp cận nguồn vốn ưu đãi theo chương trình khuyến công.
  • Giải pháp quy hoạch mặt bằng: Đẩy nhanh tiến độ thi công hạ tầng kỹ thuật Cụm công nghiệp làng nghề Phú Túc tại khu 17 mẫu cánh đồng Soi (thôn Lưu Thượng) nhằm di dời toàn bộ các cơ sở gây ô nhiễm nặng (như xưởng tẩy xút, xưởng nhúng keo dầu, lò sấy lưu huỳnh) ra khỏi khu dân cư tập trung.
  • Giải pháp bảo vệ môi trường: Đầu tư hệ thống thu gom và trạm xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn trước khi thải ra hệ thống thủy lợi; hỗ trợ chuyển giao công nghệ sấy và xử lý chống mọt thân thiện môi trường, thay thế việc hun sấy bằng lưu huỳnh truyền thống.
  • Giải pháp đào tạo và xã hội: Kiện toàn tổ chức quản lý nhà nước về công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tại Ủy ban nhân dân cấp xã; ban hành chính sách đãi ngộ, tôn vinh nghệ nhân; phối hợp các trường nghề mở lớp truyền nghề cho thợ trẻ; thiết lập quy chế bắt buộc về an toàn lao động và trang bị bảo hộ cho người sản xuất.

Về mặt đóng góp, tác giả đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về phát triển bền vững áp dụng cụ thể vào loại hình làng nghề truyền thống mây tre đan cỏ tế; cung cấp hệ thống số liệu thực chứng toàn diện tại xã Phú Túc trong vòng 10 năm; đồng thời chỉ rõ những điểm nghẽn về chính sách tín dụng và quản lý môi trường tại cấp cơ sở.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận được thực hiện ở cấp độ tốt nghiệp đại học chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học nên còn một số hạn chế nhất định:

  • Dữ liệu nghiên cứu chủ yếu dựa trên các báo cáo hành chính thứ cấp của địa phương và số liệu tổng hợp giai đoạn 2008 - 2018; chưa thực hiện được các đợt điều tra xã hội học định lượng diện rộng bằng bảng hỏi đối với người lao động làm thuê và chủ hộ sản xuất.
  • Chưa có các phép đo kiểm định lượng sinh hóa độc lập về nồng độ các chất gây ô nhiễm trong nguồn nước mặt, nước ngầm và không khí tại thôn Lưu Thượng, mà chỉ kế thừa các nhận định y tế và tài liệu hội thảo.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng:

  • Khảo sát, đánh giá hiệu quả vận hành thực tế của Cụm công nghiệp làng nghề Phú Túc sau khi hoàn thành việc di dời các cơ sở sản xuất ra khỏi khu dân cư.
  • Nghiên cứu mô hình chuỗi cung ứng nguyên liệu cỏ tế bền vững từ các tỉnh miền núi phía Bắc và miền Trung về làng nghề.
  • Đánh giá tác động của thương mại điện tử và các rào cản kỹ thuật quốc tế đối với sản phẩm mây tre đan xuất khẩu của Phú Túc.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên các ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học, Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển, Xã hội học nông thôn và Quản lý tài nguyên môi trường khi nghiên cứu đề tài về công nghiệp hóa nông thôn và bảo tồn làng nghề truyền thống.
  • Cán bộ quản lý kinh tế, công thương, môi trường cấp huyện và xã: Tham khảo mô hình phân tích thực trạng kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái và giải quyết an sinh xã hội ở cấp cơ sở.

Các nội dung có giá trị tham khảo cao gồm:

  • Dữ liệu thực chứng về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động tại xã Phú Túc giai đoạn 2008 - 2018.
  • Các phân tích về nguyên nhân không tiếp cận được vốn vay ngân hàng của hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp và phân tích quy trình công nghệ phát sinh ô nhiễm (hun lưu huỳnh, ngâm xút, nhúng keo dầu).

Câu hỏi thường gặp

1. Nguyên liệu chính làm nên nét độc đáo của sản phẩm làng nghề Phú Túc là gì và có nguồn gốc từ đâu? Nguyên liệu chính và đặc thù nhất của làng nghề Phú Túc là cây cỏ tế (một loại thực vật mọc hoang dại tại các vùng rừng núi phía Bắc và một số tỉnh miền Trung), kết hợp với mây, tre, bẹ ngô, bẹ chuối và bèo tây. Trải qua hơn 300 năm, nguồn nguyên liệu này được người dân chế tác thành hơn 1.000 mẫu sản phẩm tiêu dùng và mỹ nghệ xuất khẩu.

2. Tỷ trọng cơ cấu kinh tế và thu nhập của xã Phú Túc thay đổi như thế nào sau 10 năm (2008 - 2018)? Năm 2008, tổng GDP toàn xã đạt khoảng 98 tỷ đồng, thu nhập bình quân là 12 triệu đồng/người/năm. Đến năm 2018, tổng thu nhập đạt trên 438 tỷ đồng, thu nhập bình quân tăng lên 44 triệu đồng/người/năm. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch rõ rệt: tiểu thủ công nghiệp - công nghiệp - xây dựng chiếm 61,3%, nông nghiệp - chăn nuôi giảm còn 25,9%, thương mại - dịch vụ đạt 12,8%.

3. Vì sao các cơ sở sản xuất tại làng nghề Phú Túc khó tiếp cận các gói tín dụng hỗ trợ lãi suất của Nhà nước? Mặc dù Chính phủ đã ban hành Quyết định số 131/QĐ-TTg (hỗ trợ lãi suất 4%) và Quyết định số 443/QĐ-TTg (hỗ trợ vay trung và dài hạn), các cơ sở tại Phú Túc hầu như không thể tiếp cận. Nguyên nhân là do hơn 90% cơ sở hoạt động dưới hình thức hộ gia đình cá thể, sản xuất nhỏ lẻ, không có tài sản đủ điều kiện thế chấp ngân hàng và không có hệ thống hóa đơn, chứng từ đầu vào - đầu ra theo luật định.

4. Những nguồn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nhất tại làng nghề Phú Túc được khóa luận chỉ rõ là gì? Các nguồn ô nhiễm nghiêm trọng xuất phát từ: khâu hun sấy nguyên liệu bằng lưu huỳnh; khâu tẩy trắng song mây bằng các bể chứa hóa chất xút (NaOH); việc phun sơn tạo màu và bể ngâm nhúng keo dầu tạo độ bền không có hệ thống che chắn, lọc thải. Nước thải chứa kim loại nặng (Hg, Pb, Cr, Zn), axit và xyanua đổ trực tiếp ra mương rãnh sinh hoạt, dẫn đến gia tăng tỷ lệ mắc bệnh ung thư, viêm phế quản và bệnh về mắt của người dân địa phương.

5. Làng nào tại xã Phú Túc được công nhận là làng nghề truyền thống và địa phương đã có quy hoạch cụm công nghiệp ra sao? Trong số 8 thôn đều được công nhận làng nghề, thôn Lưu Thượng là làng nghề truyền thống mây tre đan cỏ tế. Nhằm khắc phục ô nhiễm, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 2954/QĐ-UBND thành lập Cụm công nghiệp làng nghề xã Phú Túc, quy hoạch tập trung tại khu 17 mẫu cánh đồng Soi (thôn Lưu Thượng) để di dời các cơ sở sản xuất ra khỏi khu dân cư.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Phương đã phản ánh bức tranh toàn diện về thực trạng phát triển kinh tế, xã hội và môi trường tại làng nghề mây tre đan cỏ tế xã Phú Túc trong giai đoạn 2008 - 2018. Công trình đã làm rõ động lực thúc đẩy tăng trưởng thu nhập và giải quyết việc làm nông thôn từ nghề truyền thống, đồng thời chỉ rõ những nút thắt nghiêm trọng về ô nhiễm hóa chất, thiếu hụt mặt bằng và khó khăn nguồn vốn. Hệ thống định hướng và giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ, gắn liền việc đổi mới công nghệ với giữ gìn bản sắc thủ công, đóng góp cơ sở dữ liệu xác thực cho công tác quản lý và phát triển bền vững kinh tế làng nghề tại địa phương.