Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là sắc thuế trực thu quan trọng, giữ vai trò điều tiết thu nhập dân cư, bảo đảm công bằng xã hội và tạo lập nguồn thu bền vững cho ngân sách nhà nước. Tại Việt Nam, quá trình hoàn thiện chính sách thuế thu nhập đã trải qua chặng đường dài từ Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao ban hành năm 1990 (có hiệu lực từ năm 1991, qua 6 lần sửa đổi, bổ sung) cho đến khi Quốc hội khóa XII thông qua Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009). Việc chuyển đổi từ cơ chế điều tiết hẹp sang một đạo luật thuế toàn diện áp dụng trên diện rộng đặt ra nhiều thách thức lớn trong công tác tổ chức thu nộp, kiểm soát kê khai và hiện đại hóa quản trị thuế tại cơ sở.

Khóa luận tốt nghiệp tập trung giải quyết yêu cầu cấp thiết về mặt thực tiễn thông qua đề tài: "Công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Bình Thạnh, thực trạng và giải pháp".

Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể gồm:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận chung về thuế TNCN, lịch sử hình thành, đặc điểm, vai trò và khung khổ pháp lý điều chỉnh thuế TNCN tại Việt Nam.
  2. Phân tích thực trạng tổ chức bộ máy, quy trình quản lý, công tác tuyên truyền hỗ trợ, tình hình kê khai, cấp mã số thuế và kết quả thu ngân sách về thuế TNCN tại Chi cục Thuế quận Bình Thạnh trong giai đoạn chuyển tiếp chính sách 2007 - 2009.
  3. Nhận diện các khó khăn, vướng mắc và hạn chế còn tồn đọng trong quá trình triển khai Luật Thuế TNCN tại địa phương.
  4. Đề xuất hệ thống các giải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện chính sách pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế TNCN trong giai đoạn tiếp theo.

Đối tượng nghiên cứu là các quy định pháp luật và hoạt động thực tiễn quản lý thu thuế TNCN. Phạm vi không gian nghiên cứu được giới hạn tại Chi cục Thuế quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh; phạm vi thời gian tập trung vào số liệu hoạt động và thu ngân sách giai đoạn 2007 - 2009 (có đối chiếu số liệu giai đoạn 2003 - 2006).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của khóa luận dựa trên bản chất kinh tế - xã hội của thuế trực thu, các nguyên tắc phân phối lại thu nhập quốc dân và kỹ thuật thiết kế biểu thuế lũy tiến từng phần. Tác giả tổng hợp hai phương pháp đánh thuế phổ biến trên thế giới: phương pháp đánh thuế trên từng khoản thu nhập thực tế của cá nhân (áp dụng tại Anh, Nhật Bản, Thụy Điển, các nước Châu Phi, Liên Xô cũ) và phương pháp đánh thuế trên tổng thu nhập hộ gia đình (áp dụng tại Pháp, Hà Lan).

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật làm căn cứ phân tích bao gồm:

  • Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao năm 1990 và các văn bản sửa đổi (gần nhất là Pháp lệnh số 14/2004/PL-UBTVQH11).
  • Thông tư số 81/2004/TT-BTC và Thông tư số 12/2005/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao.
  • Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 và các định hướng triển khai Thông tư số 84/2008/TT-BTC.
  • Quyết định số 729/QĐ-TCT ngày 18/06/2007 của Tổng cục Thuế về cơ cấu tổ chức chi cục thuế quận/huyện; Quyết định số 1795/QĐ-CT ngày 12/07/2007 của Cục Thuế TP.HCM; Quyết định số 8500/QĐ-UBND ngày 14/11/2008 và Kế hoạch số 160/KH-UBND ngày 15/12/2008 của UBND quận Bình Thạnh; Quyết định số 1852/QĐ/CCT-TCCB ngày 19/12/2008 của Chi cục Thuế quận Bình Thạnh.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng gồm phương pháp phân tích - tổng hợp lý luận, phương pháp thống kê mô tả số liệu thứ cấp, phương pháp so sánh đối chiếu giữa dự toán pháp lệnh, dự toán phấn đấu với kết quả thực hiện qua các năm tài chính, và phương pháp quan sát thực tiễn công tác nghiệp vụ trong thời gian thực tập tại Đội thuế TNCN Chi cục Thuế quận Bình Thạnh. Nguồn dữ liệu sử dụng là các báo cáo tổng kết công tác thuế hàng năm (2007, 2008, 2009) của Chi cục Thuế quận Bình Thạnh và các số liệu quản lý của ngành thuế TP.HCM.

Nội dung chính theo từng chương

CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

Chương này trình bày toàn diện nguồn gốc lịch sử và cơ chế vận hành của thuế TNCN trên thế giới và tại Việt Nam. Thuế TNCN xuất hiện lần đầu tại Anh năm 1799 dưới dạng thu tạm thời phục vụ chiến tranh, chính thức áp dụng từ năm 1942, sau đó mở rộng sang Nhật Bản (1887), Đức (1899), Mỹ (1903), Pháp (1916) và Liên Xô (1922). Tác giả phân tích các đặc điểm cốt lõi: là thuế trực thu không thể chuyển dịch gánh nặng thuế; diện đánh thuế rộng bao gồm cả công dân cư trú và cá nhân nước ngoài phát sinh thu nhập; kỹ thuật tính thuế phức tạp gắn liền với chính sách an sinh xã hội (miễn giảm trừ các khoản trợ cấp nhân đạo, phụ cấp đặc thù, hoàn cảnh cá nhân).

Về mặt vai trò, thuế TNCN giúp kiểm soát thu nhập dân cư, thực hiện công bằng xã hội thông qua việc thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, đóng vai trò công cụ điều tiết vĩ mô tổng cầu nền kinh tế và là nguồn thu ngân sách ngày càng gia tăng. Tỷ trọng thuế TNCN trong tổng thu ngân sách tại các nước ASEAN đạt 5 - 10%, các nước phát triển đạt 15 - 16%, cá biệt như Anh và Mỹ đạt 30 - 40%. Tại Việt Nam, quy mô số thu tăng trưởng rõ rệt từ 62 tỷ đồng (năm 1991) lên 1.832 tỷ đồng (năm 2000) và đạt trên 8.000 tỷ đồng (năm 2005), chiếm khoảng 5% tổng thu ngân sách nhà nước.

Chương I cũng làm rõ nội dung kỹ thuật theo quy định: phân loại thu nhập thường xuyên (tiền lương, tiền công, thù lao, tiền thưởng, lợi ích nhà ở chi trả hộ khống chế không quá 15% tổng thu nhập) và thu nhập không thường xuyên (chuyển giao công nghệ trên 2 triệu đồng/lần áp thuế suất 5%, trúng thưởng xổ số trên 12,5 triệu đồng áp thuế suất 10%, quà biếu hiện vật từ nước ngoài trên 2 triệu đồng áp thuế 5%); quy định đối tượng không chịu thuế (phụ cấp ca đêm, độc hại, khu vực, thâm niên vũ trang, trợ cấp thôi việc một lần, lãi tiền gửi ngân hàng, cổ phiếu, trái phiếu); biểu thuế lũy tiến từng phần với thuế thu nhập bổ sung 30% đối với phần thu nhập sau thuế vượt trên 15 triệu đồng/tháng của công dân Việt Nam; nguyên tắc áp dụng hiệp định tránh đánh thuế hai lần; thủ tục khấu trừ tại nguồn, khai tạm nộp hàng tháng, quyết toán năm trước ngày 28 tháng 2 năm sau; và chế tài xử lý vi phạm (phạt 1 đến 3 lần số thuế trốn lậu, phạt chậm nộp 0,2%/ngày).

CHƢƠNG II: QUẢN LÝ THU THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở CHI CỤC THUẾ BÌNH THẠNH, THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG HẠN CHẾ CÒN TỒN ĐỌNG

Chương II đi sâu vào phân tích thực trạng đơn vị khảo sát. Quận Bình Thạnh có diện tích 2.076 ha, dân số 464.397 người với 21 dân tộc sinh sống, có vị trí cửa ngõ Đông Bắc TP.HCM gắn với mạng lưới giao thông thủy bộ huyết mạch. Cơ cấu kinh tế quận chuyển dịch mạnh mẽ sang công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp - dịch vụ - du lịch.

Chi cục Thuế quận Bình Thạnh được thành lập theo Quyết định số 38/CP ngày 25/08/1990 của Bộ Tài chính. Tính đến ngày 31/12/2007, tổng số cán bộ công chức của Chi cục là 174 người (Nam: 93, Nữ: 81; Biên chế: 161, Hợp đồng: 13; trình độ Đại học/Cao đẳng: 102 người, chiếm 58,6%; Trung cấp: 72 người, chiếm 41,4%). Cơ cấu tổ chức gồm Ban lãnh đạo (01 Chi cục trưởng và 03 Phó Chi cục trưởng) cùng 16 đội nghiệp vụ chức năng. Đội Quản lý thuế TNCN được thành lập theo Quyết định số 729/QĐ-TCT và Quyết định số 1795/QĐ-CT với biên chế 9 cán bộ, do bà Đặng Thị Kim Cúc làm Đội trưởng. Theo Quyết định phân công số 1852/QĐ/CCT-TCCB ngày 19/12/2008, công tác quản lý thu nhập được phân định rõ ràng giữa các đội (hộ cá thể do Đội thuế Liên phường và Đội kiểm tra số 4 quản lý; chuyển nhượng bất động sản và thừa kế quà tặng do Đội trước bạ quản lý; các khoản thu nhập còn lại do Đội thuế TNCN quản lý).

Tình hình thực hiện dự toán thu ngân sách và kết quả thu thuế TNCN của Chi cục Thuế Bình Thạnh được tổng hợp qua bảng số liệu sau:

Chỉ tiêu / Năm 2007 2008 2009
Dự toán pháp lệnh (triệu đồng) 539.200 725.200 900.000
Tổng thu ngân sách thực hiện (triệu đồng) 651.811 1.118.533 1.041.575
Tỷ lệ đạt so với dự toán pháp lệnh (%) 120,88% 138,93% 115,73%
Số doanh nghiệp quản lý (đơn vị) 5.671 6.096 7.671
Số thuế thu TNCN thực tế (triệu đồng) 7.790 18.823 58.632
Tỷ trọng thuế TNCN / Tổng thu thuế, phí (%) 1,19% 1,68% 5,63%

(Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác thuế các năm 2007, 2008, 2009 của Chi cục Thuế quận Bình Thạnh)

Về công tác triển khai Luật Thuế TNCN, Chi cục đã tham mưu thành lập Ban chỉ đạo quận (Quyết định số 8500/QĐ-UBND) và ban hành Kế hoạch số 160/KH-UBND; tổ chức tập huấn cho cán bộ công chức cơ quan và 500 cán bộ chủ chốt của quận; tổ chức các hội nghị tập huấn chính sách cho doanh nghiệp (năm 2007 có 11 cuộc với hơn 5.000 DN; năm 2008 hơn 12.000 lượt tham dự; năm 2009 tổ chức 4 kỳ hội thảo với trên 11.000 lượt tham dự); phát hành 2.000 tờ bướm tuyên truyền năm 2008 và 23.000 tờ năm 2009. Tính đến ngày 31/12/2009, Chi cục đã cấp mã số thuế (MST) TNCN cho 4.911/6.881 tổ chức chi trả thu nhập và cấp 46.073/55.146 MST cá nhân dự kiến (đạt tỷ lệ 83,5%).

Khóa luận chỉ rõ những khó khăn, bất cập trong thực tiễn:

  • Áp lực quá tải hệ thống cấp MST do việc phê duyệt tập trung tại Cục Thuế TP.HCM; hệ thống tin học ngành thuế thời điểm đầu năm 2009 chưa đáp ứng kịp khối lượng dữ liệu phát sinh lớn.
  • Bất cập trong việc xác định và kê khai giảm trừ gia cảnh: mức giảm trừ 4 triệu đồng/tháng cho bản thân và 1,6 triệu đồng/tháng cho người phụ thuộc chưa tính đến trượt giá và không phân hóa mức sống chênh lệch giữa đô thị với nông thôn, vùng sâu vùng xa; cơ chế kiểm soát người phụ thuộc lỏng lẻo dễ dẫn đến tính trùng người phụ thuộc giữa các cá nhân cùng nuôi dưỡng ở các địa bàn khác nhau; chính quyền địa phương gặp khó khăn hoặc tùy tiện trong khâu xác nhận hoàn cảnh nuôi dưỡng.
  • Thói quen sử dụng tiền mặt trong nền kinh tế khiến cơ quan thuế khó kiểm soát các nguồn thu nhập ngoài lương, thu nhập từ kinh doanh tự do, cá nhân hành nghề độc lập, văn nghệ sĩ.
  • Trình độ am hiểu pháp luật thuế của kế toán đơn vị chi trả còn hạn chế, dẫn đến tình trạng dồn ứ hồ sơ quyết toán vào những ngày cuối tháng 3, tạo áp lực quá tải lên đội ngũ 9 cán bộ Đội thuế TNCN.

CHƢƠNG III: ĐỀ XUẤT VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THU THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

Dựa trên thực trạng và thành tựu số thu thuế TNCN quận Bình Thạnh tăng trưởng nhảy vọt từ 318 triệu đồng (năm 2003) lên 58.632 triệu đồng (năm 2009), chương này đề xuất 2 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Hoàn thiện hệ thống Luật Thuế TNCN:

    • Bổ sung cơ chế chuyển lỗ liên tục trong 5 năm và chính sách ưu đãi cho cá nhân kinh doanh (tương tự như pháp luật thuế Thu nhập doanh nghiệp đang áp dụng).
    • Thiết kế tích hợp các mẫu tờ khai thuế thông qua việc sử dụng Tờ phụ lục đính kèm đa trang (supplement), thay vì phân tán nhiều mẫu biểu độc lập, giúp tinh gọn thủ tục hành chính và thuận tiện cho công tác tổng hợp dữ liệu.
    • Cho phép bù trừ lỗ giữa các nguồn thu nhập khác nhau của cùng một cá nhân trước khi xác định thu nhập chịu thuế; hướng tới xây dựng một sắc luật thuế thu nhập thống nhất áp dụng chung cho nhiều đối tượng.
    • Hiện đại hóa phần mềm ứng dụng kê khai có mã vạch hai chiều, triển khai nộp tờ khai trực tuyến kết hợp cấp chữ ký số điện tử cho từng cá nhân nộp thuế.
  2. Nâng cao công tác tổ chức thực hiện chính sách thuế:

    • Đẩy mạnh tuyên truyền: Đa dạng hóa hình thức truyền thông, duy trì đường dây nóng hỗ trợ, phối hợp các bộ ngành đưa kiến thức thuế cơ bản vào chương trình Giáo dục công dân cấp THCS và THPT; định kỳ điều tra trắc nghiệm đánh giá mức độ am hiểu thuế của người dân.
    • Đăng ký mã số thuế bao phủ: Thực hiện cấp MST bắt buộc cho toàn bộ người lao động phát sinh thu nhập nhằm mở rộng cơ sở thuế và ngăn chặn thất thu.
    • Thực hiện quyết toán thuế đồng bộ: Hoàn thiện quy trình tự khai, tự nộp, đẩy mạnh công tác kiểm tra, phân loại người nộp thuế theo mức độ rủi ro để tập trung thanh tra có trọng điểm; tăng cường trao đổi dữ liệu với cơ quan Công an, Ngoại vụ, Lao động.
    • Đào tạo và chuẩn hóa đội ngũ cán bộ thuế: Phân định chương trình đào tạo chuyên sâu theo từng cấp (cấp Tổng cục đào tạo nghiên cứu chính sách vĩ mô; cấp Cục và Chi cục đào tạo chuyên môn hóa theo chức năng kê khai, kế toán, kiểm tra, cưỡng chế nợ); phát triển Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ ngành thuế thành Trường Thuế Quốc gia hoặc Học viện Thuế; xây dựng mạng lưới giáo viên kiêm chức tại các Cục Thuế.
    • Tăng cường cơ sở vật chất, thanh tra xử lý vi phạm: Kiểm soát chặt chẽ thu nhập người nước ngoài, tôn vinh các tổ chức chi trả và cá nhân chấp hành tốt, đồng thời xử lý nghiêm các hành vi gian lận thuế.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã phản ánh trung thực bức tranh chuyển dịch chính sách thuế TNCN tại một địa bàn đô thị trọng điểm thông qua các số liệu và đóng góp cụ thể:

  • Làm rõ bước nhảy vọt về quy mô số thu thuế TNCN tại Chi cục Thuế quận Bình Thạnh: từ 318 triệu đồng năm 2003 lên 7.790 triệu đồng năm 2007, đạt 18.823 triệu đồng năm 2008 và chạm mức 58.632 triệu đồng năm 2009. Tỷ trọng thuế TNCN trong tổng nguồn thu ngân sách quận tăng trưởng mạnh từ mức 1,19% (năm 2007) lên 5,63% (năm 2009).
  • Đánh giá toàn diện công tác chuẩn bị nguồn lực kỹ thuật và nhân sự tại cấp cơ sở: tổ chức thành công Đội thuế TNCN gồm 9 nhân sự phụ trách địa bàn rộng lớn; cấp được 46.073 mã số thuế cá nhân đạt 83,5% kế hoạch đề ra tính đến ngày 31/12/2009; vận hành các phiên bản ứng dụng tin học ngành thuế (HTKK 2.3, phần mềm đăng ký thuế TNCN 2.3, website chuyên ngành tncnonline.vn).
  • Đóng góp hệ thống đề xuất mang tính xây dựng từ thực tiễn quản lý địa phương gửi tới các nhà hoạch định chính sách cấp trung ương: chỉ ra sự thiếu hợp lý của mức giảm trừ gia cảnh bình quân cào bằng không tính yếu tố trượt giá và địa bàn đô thị; đề xuất cơ chế tích hợp mẫu biểu kê khai và quyền chuyển lỗ 5 năm cho cá nhân kinh doanh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn gắn liền với bối cảnh triển khai:

  • Phạm vi dữ liệu thực nghiệm dừng lại ở giai đoạn 2007 - 2009, thời điểm Luật Thuế TNCN năm 2007 mới bước vào năm đầu tiên thi hành chính thức và đang được áp dụng kèm các gói chính sách miễn, giãn thuế của Chính phủ nhằm kích cầu kinh tế, do đó số liệu thu năm 2009 chưa phản ánh trọn vẹn toàn bộ chu kỳ vận hành ổn định của luật.
  • Địa bàn khảo sát giới hạn trong phạm vi một quận nội thành (quận Bình Thạnh), chưa thực hiện so sánh đối chứng liên quận hoặc đánh giá sự khác biệt với các chi cục thuế khu vực nông thôn, huyện ngoại thành.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung theo dõi đánh giá tác động dài hạn khi hệ thống kê khai thuế điện tử và cơ chế thanh toán không dùng tiền mặt được hoàn thiện đồng bộ, cũng như nghiên cứu việc điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh dựa trên chỉ số giá tiêu dùng (CPI).

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tư liệu có giá trị cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Tài chính công, Quản trị Thuế, Kế toán - Kiểm toán tham khảo về mô hình tổ chức bộ máy chi cục thuế cấp quận/huyện và phương pháp phân tích báo cáo quyết toán thu ngân sách nhà nước.
  • Cán bộ nghiệp vụ ngành thuế tham khảo các giải pháp tổ chức tuyên truyền, quy trình tiếp nhận hồ sơ đăng ký MST cá nhân và bài học kinh nghiệm xử lý quá tải công tác quyết toán thuế mùa cao điểm.
  • Các nhà nghiên cứu chính sách công sử dụng số liệu thực tế giai đoạn 2007 - 2009 để đánh giá tác động thực thi của giai đoạn chuyển giao giữa Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao và Luật Thuế TNCN năm 2007.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu nhân sự và tổ chức bộ máy tại Chi cục Thuế quận Bình Thạnh năm 2007 có đặc điểm gì?
Tính đến ngày 31/12/2007, Chi cục có 174 cán bộ công chức (161 biên chế, 13 hợp đồng; 93 nam, 81 nữ). Trình độ chuyên môn gồm 102 cán bộ có trình độ Đại học/Cao đẳng (chiếm 58,6%) và 72 cán bộ trình độ Trung cấp (chiếm 41,4%). Bộ máy quản lý gồm 01 Chi cục trưởng (ông Trần Văn Đức), 03 Phó Chi cục trưởng và 16 đội nghiệp vụ. Riêng Đội Quản lý thuế TNCN được thành lập theo Quyết định số 729/QĐ-TCT và Quyết định 1795/QĐ-CT gồm 9 cán bộ do bà Đặng Thị Kim Cúc làm Đội trưởng.

2. Kết quả thu thuế TNCN tại quận Bình Thạnh đã có bước tăng trưởng như thế nào trong giai đoạn 2003 - 2009?
Số thu thuế TNCN tại Bình Thạnh tăng liên tục qua các năm: năm 2003 đạt 318 triệu đồng; năm 2007 đạt 7.790 triệu đồng; năm 2008 tăng lên 18.823 triệu đồng (đạt 268,90% so với dự toán); và đến năm 2009 đạt 58.632 triệu đồng. Tỷ trọng số thu thuế TNCN trên tổng thu thuế, phí của quận đã tăng từ 0,15% (năm 2003) lên 5,63% (năm 2009).

3. Tiến độ cấp mã số thuế cá nhân tại Chi cục Thuế Bình Thạnh đến ngày 31/12/2009 đạt kết quả ra sao?
Đến hết ngày 31/12/2009, trên địa bàn có 4.911 tổ chức chi trả thu nhập được cấp MST (trên tổng số 6.881 đơn vị phải cấp, còn lại 1.970 đơn vị). Tổng số MST cá nhân đã cấp là 46.073 MST trên tổng số 55.146 MST dự kiến phải cấp (đạt 83,5%, còn lại 9.073 MST cá nhân tiếp tục cấp trong năm 2010).

4. Tác giả đã chỉ ra những điểm bất cập chính nào về mức giảm trừ gia cảnh theo quy định thời điểm nghiên cứu?
Tác giả chỉ rõ mức giảm trừ 4 triệu đồng/người/tháng đối với bản thân người nộp thuế và 1,6 triệu đồng/người/tháng đối với mỗi người phụ thuộc là chưa phù hợp với chi phí sinh hoạt thực tế tại đô thị và chưa tính đến yếu tố mất giá của đồng tiền (lạm phát). Đồng thời, mức giảm trừ áp dụng cào bằng giữa mọi khu vực mà không tính đến sự chênh lệch mức sống lớn giữa thành thị, nông thôn và miền núi.

5. Các giải pháp cải cách kỹ thuật lập biểu mẫu và chính sách thuế được tác giả đề xuất là gì?
Tác giả kiến nghị bổ sung quyền chuyển lỗ trong 5 năm cho cá nhân kinh doanh tương tự như thuế TNDN; cho phép bù trừ lỗ giữa các nguồn thu nhập; gộp chung các khoản thu nhập vào một Tờ khai thuế duy nhất và sử dụng các tờ phụ lục đính kèm đa trang (supplement) để giảm tải mẫu biểu; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng kê khai qua mạng gắn với cấp chữ ký số cá nhân.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp "Công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Bình Thạnh, thực trạng và giải pháp" đã phản ánh chi tiết quá trình chuyển giao và thực thi Luật Thuế TNCN tại một địa bàn đô thị lớn của TP.HCM giai đoạn 2007 - 2009. Nghiên cứu cung cấp hệ thống số liệu xác thực về tổ chức bộ máy, năng lực nhân sự, kết quả thu ngân sách và tiến độ cấp mã số thuế tại Chi cục Thuế quận Bình Thạnh. Các giải pháp do tác giả đề xuất về hoàn thiện luật thuế, cải cách mẫu biểu kê khai và chuẩn hóa công tác đào tạo cán bộ thuế mang giá trị thực tiễn sâu sắc cho công tác quản lý tài chính công ở cấp cơ sở.