CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. Khái niệm, đặc điểm của thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm về thuế, thuế GTGT a) Khái niệm thuế Theo Gaston Jeze “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của nhà nước” (Gaston Jeze.
“Finances Publiqué”, 1934) Trên góc độ phân phối thu nhập, C.Mác đã định nghĩa: “Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. Thuế là hình thức động viên mang tính chất bắt buộc trên nguyên tắc luật định. Đặc điểm này được thể chế hoá trong hiến pháp của mỗi quốc gia. Nhà nước dùng quyền lực và sức mạnh để ấn định các thứ thuế, bắt buộc các tổ chức kinh tế và công dân thực hiện các nghĩa vụ thuế để nhà nước có nguồn thu ổn định, thường xuyên đảm bảo trang trải các khoản chi trong hoạt động thường 12 xuyên của Nhà nước mà vẫn ổn định được Ngân sách Nhà nước.
Tổ chức hoặc cá nhân nào không thực hiện đúng nghĩa vụ nộp thuế của mình tức là họ đã vi phạm pháp luật của quốc gia đó. Đặc điểm này phân biệt sự khác nhau giữa các khoản thuế với các khoản đóng góp mang tính tự nguyện cho Ngân sách Nhà nước và thuế đối với các khoản vay mượn khác của Chính Phủ. Thuế là khoản đóng góp không mang tính hoàn trả trực tiếp. Thuế vận động một chiều, trên cơ sở các số thuể thu được Nhà nước sẽ sử dụng cho những chi tiêu công cộng, phục vụ cho nhu cầu của Nhà nước và mọi cá nhân trong xã hội.
Số thuế mà các đối tượng phải nộp cho Nhà nước được tính toán không dựa trên khối lượng lợi ích công cộng họ nhận được mà dựa trên những hoạt động cụ thể và thu nhập của họ. Đặc điểm này cũng phân bịêt giữa thuế với phí và lệ phí. Như vậy, thuế là một khoản đóng góp có tính bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước, được quy định bằng các văn bản pháp luật và không có tính hoàn trả trực tiếp. b) Khái niệm thuế GTGT Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu tiếng Anh gọi là “Value Added Tax (viết tắt là VAT), dịch ra tiếng Việt là thuế giá trị gia tăng” và Pháp là nước đầu tiên trên thế giới ban hành Luật thuế giá trị gia tăng - vào năm 1954.
Thuế giá trị gia tăng theo tiếng Pháp gọi là: Taxe Sur La Valeur Ajou tée (viết tắt là TVA), Ngày nay, Việt Nam và các quốc gia khác đã chính thức áp dụng thuế giá trị gia tăng, tính đến nay đã có khoảng 130 quốc gia áp dụng thuế giá trị gia tăng. Trong kỳ họp lần thứ 11 Quốc hội khoá 9, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật thuế giá trị gia tăng và có hiệu lực thi hành kề từ ngày 01-01-1999. Quy định của Luật thuế giá trị gia tăng thì thuế giá trị gia tăng là một loại thuế gián 13 thu đánh trên khoản giá trị tăng thêm cuả hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được nộp vào ngân sách Nhà nước theo mức độ tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ. Thuế GTGT là một sắc thuế đánh vào mỗi giai đoạn sản xuất, lưu thông sản phẩm hàng hoá, từ khi còn là nguyên liệu thô sơ cho đến sản phẩm hoàn thành, và cuối cùng là giai đoạn tiêu dùng.
Chính vì vậy, thuế giá trị gia tăng là khoản thu cuối cùng được cộng vào giá bán hàng hoá, dịch vụ của hàng hóa dịch vụ do người tiêu dùng chịu khi mua và sử dụng dịch vụ hàng hoá. Đặc điểm của thuế GTGT - Đối tượng chịu thuế GTGT là phần giá trị tăng thêm trong các khâu của quá trình lưu thông từ sản xuất đến tiêu dùng được sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam. Khác với thuế doanh thu, thuế GTGT chỉ đánh vào phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ trong quá trình lưu thông. Đặc điểm này yêu cầu các chủ thể là đối tượng nộp thuế phải tự kiểm soát lẫn nhau về giá trị hàng hóa, dịch vụ nhằm bảo vệ lợi ích của mình.
Hệ quả của căn cứ này là nhằm khuyến khích các chủ thể sản xuất, kinh doanh sử dụng hệ thống hóa đơn chứng từ nhằm chứng minh giá trị tăng thêm làm căn cứ tính thuế, góp phần làm lành mạnh hóa thị trường và nhà nước có thể kiểm soát được giá cả, số lượng hàng hóa, dịch vụ lưu thông trên thị trường nhằm kiểm soát lạm phát và cung cấp số liệu thống kê hợp lý cho các mục đích kinh tế khác - Thuế GTGT phát sinh nhiều lần, xuất hiện ở mỗi khâu của quá trình kinh doanh từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng, người tiêu dùng không phải trả tiền thuế cho tất cả các khâu trước đó. Đây là điểm ưu việt của thuế GTGT so 14 với thuế doanh thu vì đảm bảo được sự công bằng, tránh sự trùng lặp trong việc nộp thuế. - Thuế GTGT có phạm vi tác động rộng, đánh vào hầu như tất cả hàng hóa dịch vụ trên thị trường. Thuế GTGT thu vào phần giá trịn tăng thêm thực hiện ở các khâu từ sản xuất đến tiêu dùng, đồng thời áp dụng đối với mọi hàng hóa, dịch vụ trên thị trường.
Vì thế phạm vi tác động của thuế GTGT rất lớn và rộng khắp. - Người tiêu dùng là người cuối cùng chịu thuế GTGT, người nộp thuế (doanh nghiệp) chỉ là người nộp thay cho người tiêu dùng thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước. Xét về mặt tính chất thì thuế GTGT là một loại thuế gián thu, tiền thuế được cấu thành trong giá cả hàng hóa và dịch vụ, người tiêu dùng là người cuối cùng chịu thuế, người nộp thuế (doanh nghiệp) chỉ là người nộp thay cho người tiêu dùng thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước. Phần thuế nộp thay sẽ được khấu trừ khi doanh nghiệp quyết toán thuế GTGT tại cơ quan thuế.
Phạm vi áp dụng và căn cứ tính thuế giá trị gia tăng 1. Phạm vi áp dụng thuế GTGT Theo đó những nội dung cơ bản quy định về thuế GTGT bao gồm: a) Đối tượng chịu thuế - Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ hợp pháp và được phép lưu thông trên thị trường Việt Nam. - Các khâu của quá trình lưu thông hàng hóa, dịch vụ từ sản xuất đến tiêu dùng phải là những giao dịch hợp pháp. bNgười nộp thuế GTGT 15 Người nộp thuế GTGT là cá nhân, doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt loại hình kinh doanh, ngành nghề và các tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hoá, sử dụng dịch vụ từ nước ngoài 1.
Căn cứ tính thuế GTGT Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất. - Giá tính thuế Giá tính thuế GTGT là giá bán chưa có thuế GTGT được ghi trên hóa đơn bán hàng của người bán hàng, người cung cấp dịch vụ hoặc giá chưa có thuế GTGT được ghi trên chứng từ hàng hóa nhập khẩu. - Thuế suất Theo luật thuế GTGT hiện hành thì có 3 mức thuế suất là: 0%, 5%, 10%. Thuế suất 0%: Thuế suất 0% được áp dụng chủ yếu đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu cung cấp trực tiếp cho các cá nhân, tổ chức trong khu phi thuế quan hoặc ở nước ngoài, vận tải quốc tế.
Thuế suất 5%: Phần lớn hàng hóa áp dụng thuế suất 5% là hàng hóa dịch vụ phục vụ giáo dục, dụng cụ y tế, sản xuất nông nghiệp, dịch vụ khoa học và công nghệ. Thuế suất 10%: Thuế suất 10% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ còn lại không được quy định tại hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế, chịu thuế 0% và chịu thuế 5%. Quy trình thu thuế giá trị gia tăng Có thể mô tả quy trình thu thuế dưới dạng sơ đồ như sau: Hình 1.1: Quy trình thu thuế GTGT 16 Đăng kí thuế Xử lý tờ khai và chứng từ nộp thuế Thu nợ thuế Hoàn thuế Xử lý, miễn giảm thuế Nguồn: Giáo trình thuế (2018) - Giai đoạn 1: Đăng kí thuế. Các DN khi mới bắt đầu hoạt động kinh doanh đều phải tiến hành đăng ký kinh doanh và đăng kí mã số thuế theo quy định của pháp luật.
Quy trình thu thuế được cục thuế cấp tỉnh/thành áp dụng Đối với NNT là tổ chức, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh và các trường hợp còn lại thành lập, hoạt động không theo Luật Doanh nghiệp: NNT nộp hồ sơ cho CQT quản lý trực tiếp tại bộ phận “một cửa” hoặc qua đường bưu chính hoặc thông qua hệ thống giao dịch điện tử. Hồ sơ đăng ký mã số doanh nghiệp chuyển đến từ CQ ĐKKD: Việc tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ đăng ký mã số doanh nghiệp thực hiện theo Quy trình phối hợp trao đổi thông tin đăng ký doanh nghiệp giữa CQT và CQ ĐKKD hiện hành (gọi tắt là Quy trình phối hợp trao đổi thông tin đăng ký doanh nghiệp).Trường hợp thông tin ĐKT của NNT đầy đủ, đúng thủ tục: bộ phận ĐKT xác nhận thông 17 tin ĐKT; xác định thông tin CQT quản lý và thông tin về MLNS của NNT, cập nhật các thông tin trên vào “Khu vực dành cho cơ quan thuế” trên hệ thống ĐKT. Hệ thống ĐKT thực hiện cấp MSDN; truyền trả MSDN cho CQ ĐKKD. Trường hợp cơ quan ĐKKD chấp nhận cấp MSDN, hệ thống ĐKT tự động cập nhật toàn bộ thông tin của NNT vào CSDL của hệ thống ĐKT, đồng thời truyền dữ liệu của NNT lên trang thông tin điện tử chính thức của ngành Thuế.
Đối với hồ sơ ĐKT nộp tại CQT: Hệ thống ĐKT tự động kiểm tra, đối chiếu các thông tin trên hồ sơ ĐKT đã nhập theo quy định tại Thông tư số 80/2012/TT-BTC. Trường hợp thông tin ĐKT của NNT đầy đủ, hợp lệ: hệ thống ĐKT thực hiện cấp MST theo quy định tại Thông tư số 80/2012/TT-BTC. - Giai đoạn 2: Xử lý tờ khai và chứng từ nộp thuế Cơ quan thuế cần phân chia các loại tờ khai và chứng từ nộp thuế, Người nộp thuế phải sử dụng đúng mẫu tờ khai thuế và không được thay đổi khuôn dạng, thêm, bớt hoặc thay đổi vị trí của bất kỳ chỉ tiêu nào trong tờ khai thuế.