Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 4 Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Cục thuế tỉnh Vĩnh Phúc. Chương 4: Giải pháp hoàn thiện quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Cục thuế tỉnh Vĩnh Phúc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. Cơ sở lý luận về quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định đƣợc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện hoạt động kinh doanh. Theo hình thức sở hữu tài sản thì Doanh nghiệp bao gồm: Doanh nghiệp nhà nƣớc và Doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần kinh tế xã hội.
Trong nền kinh tế thị trƣờng, DNNQD tồn tại và phát triển đã đem lại nhiều lợi ích kinh tế - xã hội cho đất nƣớc. - Góp phần làm tăng của cải vật chất cho xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Khu vực kinh tế NQD đƣợc phân bổ rộng khắp từ thành thị tới nông thôn, ngành nghề lĩnh vực kinh doanh, quy mô sản xuất đa dạng nên có nhiều thuận lợi trong quá trình tổ chức hoạt động kinh doanh làm tăng của cải vật chất cho xã hội, thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế, thu hút lao động, tạo thu nhập cho ngƣời lao động từng bƣớc rút ngắn khoảng cách về thu nhập giữa thành thị và nông thôn, khai thác chế biến có hiệu quả nguồn tài nguyên, thiên nhiên của đất nƣớc. Không ngừng phát huy nội lực, tính chủ động sáng tạo trong Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 sản xuất kinh doanh từng bƣớc đáp ứng đƣợc nhu cầu tiêu dùng của thị trƣờng trong nƣớc và xuất khẩu sang thị trƣờng quốc tế.
DNNQD có khả năng tập trung vốn, trí tuệ vào các ngành kinh tế phát triển hay những ngành kinh tế đòi hỏi nhiều hàm lƣợng tri thức, cũng nhƣ trong những lĩnh vực kinh doanh không cần nhiều vốn và lợi nhuận thấp mà các nhà đầu tƣ lớn ít quan tâm từ đó góp phần tích cực vào việc thực hiện chỉ tiêu về tăng trƣởng kinh tế và các chƣơng trình kinh tế xã hội do Nhà nƣớc đề ra. - Góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động Dân số nƣớc ta khoảng 90 triệu ngƣời và đang ở giai đoạn dân số vàng. Lực lƣợng lao động phổ thông chƣa qua đào tạo ở nƣớc ta chiếm một tỷ lệ lớn. Giải quyết việc làm cho ngƣời lao động là vấn đề quan trọng cần đƣợc giải quyết.
Khu vực kinh tế Nhà nƣớc và khu vực kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài đòi hỏi lực lƣợng lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật nhất định nên dẫn đến một lƣợng lớn lao động đang ở tuổi lao động không thể tìm kiếm việc làm trong hai khu vực kinh tế này. Khu vực kinh tế NQD với lợi thế về phân bố, quy mô sản xuất kinh doanh, ngành nghề đa dạng hóa hơn hai khu vực kinh tế trên nên thu hút nhiều đối tƣợng lao động từ lao động phổ thông đến lao động có trình độ cao, từ lao động làm việc trong các doanh nghiệp có trình độ kỹ thuât công nghệ cao tới lao động làm việc trong các làng nghề, các hợp tác thủ công và kể cả lao động khuyết tật, lao động theo mùa vụ, đến những hợp đồng lao động ngắn hạn và dài hạn. Chính vì vậy khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho ngƣời lao động, ổn định kinh tế - xã hội, đặc biệt ở các vùng nông thôn, địa bàn khó khăn chƣa có điều kiện công nghiệp hóa. - Tạo cho ngân sách có nguồn thu ổn định và ngày càng tăng.
Nhà nƣớc phải đầu tƣ vốn, quản lý điều hành đối với Doanh nghiệp nhà nƣớc, doanh nghiệp đầu tƣ nƣớc ngoài nhà nƣớc không phải đầu tƣ vốn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 7 nhƣng nhà nƣớc đã có rất nhiều ƣu đãi về đất đai và miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp nên cũng tạo ra những lợi thế nhất định so với các DNNQD. Khác với các doanh nghiệp Nhà nƣớc, DNNQD với vai trò là chủ sở hữu về vốn và tƣ liệu sản xuất nên việc nộp ngân sách mới đúng bản chất là thuế, vì Nhà nƣớc thu thuế mà không phải đầu tƣ vào khu vực này. Những năm gần đây DNNQD phát triến nhanh và mạnh kể cả về số lƣợng doanh nghiệp và cả về quy mô hoạt động nên nguồn thu từ khu vực này ngày càng tăng đảm bảo cho Nhà nƣớc thực hiện đƣợc các chƣơng trình mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ các ngành kinh tế phát triển chậm.đồng thời có nguồn tài chính để tham gia các chƣơng trình nhân đạo trong nƣớc và quốc tế. Do vậy nếu có cơ chế quản lý tốt thì mức đóng góp từ các doanh nghiệp này sẽ ổn định và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu NSNN.
- Góp phần tăng vốn đầu tư cho xã hội Khu vực kinh tế NQD đƣợc đánh giá là khu vực có tiềm năng lớn về vốn, sự phát triển của khu vực kinh tế NQD tạo ra một thị trƣờng vốn lớn, đa dạng và là tiềm năng cho thị trƣờng tài chính, tín dụng phát triển. Nền kinh tế Việt Nam đang phát triển và hội nhập với nền kinh tế thế giới và cùng với chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần của nƣớc ta nên khu vực NQD huy động một lƣợng vốn đầu tƣ lớn cho xã hội. Nguồn vốn trong khu vực kinh tế NQD đƣợc đánh giá là có tiềm năng lớn, song khai thác, sử dụng chƣa hiệu quả nên phải có cơ chế, chính sách hợp lý và phải có mối quan hệ mật thiết với các tổ chức tài chính tín dụng nhằm huy động và sử dụng nguồn vốn có hiệu quả góp phần lành mạnh hóa các hoạt động tín dụng của ngân hàng. Đặc điểm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh Doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao gồm: Công ty TNHH, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh và Doanh nghiệp tƣ nhân.
DNNQD đều có những đặc điểm chung đó là: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 8 - Tính chất sở hữu tư nhân về tư liệu lao động. Sở hữu về tƣ liệu lao đông làm cho quyền lợi của mỗi thành viên trong DN đƣợc gắn liền với nhau, có ý thức trách nhiệm cao, tập trung đƣợc nguồn lực và sức lực vào công việc của mình. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN gắn liền với quyền lợi cá nhân của ngƣời sản xuất. Do đó bất cứ một thay đổi nào ảnh hƣởng đến kết quả kinh doanh của DN đều ảnh hƣởng đến các thành viên trong doanh nghiệp, nên các DN rất năng động trong việc tìm kiếm cơ hội đầu tƣ và sẵn sàng đầu tƣ bằng bất cứ giá nào để kiếm đƣợc thật nhiều lợi nhuận với những phƣơng án kinh doanh rất độc đáo và mạo hiểm.
Để đạt đƣợc mục đích kinh doanh và lợi nhuận đôi khi họ coi thƣờng pháp luật kể cả trốn thuế gây hậu quả sấu cho xã hội và làm cho công tác quản lý thu thuế đối với DNNQD sẽ trở lên khó khăn, phức tạp hơn. - Hoạt động của các DNNQD mang tính phân tán: DNNQD hoạt động mang tính phân tán thiếu tính định hƣớng, rộng khắp từ thành thị đến nông thôn, tập trung vào các ngành tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, thƣơng mại, dịch vụ ăn uống. Do loại hình kinh doanh đa dạng, hoạt động trên phạm vi rộng, qui mô không đồng đều, thiếu tính tập trung. Do đó sẽ gây khó khăn cho cơ quan quản lý trong việc giám sát, quản lý và cũng nhƣ công tác quản lý thuế đối với DNNQD.
- Quy mô của DNNQD: Qui mô của các DNNQD thƣờng là nhỏ, vốn ít, cơ cấu đơn giản, bộ máy gọn nhẹ linh hoạt, số lƣợng công nhân ít và không mang tính chuyên môn hóa cao nên chi phí nhân công thấp, tạo lợi thế cạnh tranh về giá và sản phẩm cuối cùng. Chính vì vậy các DNNQD dễ dàng chuyển hƣớng kinh doanh, dễ thích nghi với hoàn cảnh và yêu cầu của nền kinh tế. Từ đó làm cho cơ quan thuế rất khó kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. - Trình độ văn hóa thấp: Lao động trong các DNNQD thƣờng có trình độ văn hóa thấp, không đƣợc đào tạo về chuyên môn, kỹ thuật dẫn đến trình Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 9 độ quản lý, công nghệ lạc hậu.
Ngƣời lao động ở khu vực này rất đa dạng hội tự đủ các thành phần nhƣ trẻ em, ngƣời già, ngƣời tàn tật, lao động nông nhà, cán bộ nhân viên nghỉ hƣu, nghỉ mất sức hoặc những ngƣời không có công ăn việc làm phải kinh doanh để kiếm sống. Do đó, việc tuyên truyền giải thích chính sách gặp rất nhiều vấn đề khó khăn, công tác quản lý có nhiều trở ngại do hạn chế về trình độ văn hóa, thiếu thông tin về thị trƣờng nên thiếu kỹ năng để ứng phó với tác động thị trƣờng trong và ngoài nƣớc. - Sự tồn tại và phát triển mang tính tự phát: DNNQD tồn tại và phát triển còn phụ thuộc vào cung cầu thị trƣờng hàng hoá, phụ thuộc vào lợi nhuận tạo ra từ ngành nghề sản xuất kinh doanh và phụ thuộc vào những chính sách của Nhà nƣớc trong việc hạn chế hay khuyến khích phát triển. - Về việc chấp hành pháp luật của Nhà nước còn nhiều hạn chế: Do ngƣời quản lý doanh nghiệp cũng là ngƣời chủ sở hữu doanh nghiệp nên họ toàn quyền quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nên vì mục tiêu lợi nhuận họ coi nhẹ pháp luật: Kinh doanh trái phép, không phép, thực hiện chế độ hoá đơn chứng từ mua bán hàng hoá chƣa đầy đủ, không theo đúng qui định của Nhà nƣớc, đôi khi mang tính hình thức. Thanh toán, giao dịch chủ yếu bằng tiền mặt do đó công tác kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan chức năng gặp nhiều khó khăn. Dùng nhiều tài khoản để thanh toán, giao dịch nhằm trốn thuế, gian lận thƣơng mại gây hậu quả xấu cho xã hội. Trên đây là một số đặc điểm cơ bản, những ƣu điểm, nhƣợc điểm của DNNQD.