chương I của Luật này đã đưa ra rằng: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” 5 2. Vai trò ý nghĩa của NSNN a) Vai trò điều tiết trong lĩnh vực kinh tế Trong cơ chế thị trường kế hoạch hoá tập trung, cùng việc Nhà nước can thiệp trực tiếp vào hoạt động của sản xuất kinh doanh, vai trò của ngân sách trong việc điều chỉnh các hoạt động trở nên hết sức thụ động. Ngân sách gần như chỉ là cái túi đựng số thu để rồi thực hiện việc bao cấp tràn lan cho các hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua cấp vốn cố định, vốn lưu động, bù giá, bù lương,. Trong điều kiện đó hiệu quả thu chi ngân sách không được coi trọng; do đó việc tác động của ngân sách đến các hoạt động kinh tế nhằm điều chỉnh các hoạt động đó và thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế là hết sức hạn chế.
Chuyển sang cơ chế thị trường, trong lĩnh vực kinh tế , Nhà nước định hướng việc hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền. Điều đó được thể hiện thông qua các chính sách thuế, chính sách chi tiêu của ngân sách chính phủ để vừa kích thích, vừa gây sức ép với các doanh nghiệp, nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế (Dương Đăng Chinh, 2009). b) Vai trò trong lĩnh vực xã hội Trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, sự tồn tại và hoạt động có hiệu quả của bộ máy Nhà nước, lực lượng quân đội, công an, sự phát triển của các hoạt động xã hội, y tế, văn hoá có ý nghĩa quyết định. Việc thực hiện các nhiệm vụ này cơ bản thuộc về Nhà nước và không vì mục đích lợi nhuận; nhưng nguồn để thực hiện những nhiệm vụ đó lại được cấp phát từ ngân sách.
Như vậy, trong việc thực hiện các nhiệm vụ có tính chất chung toàn xã hội, ngân sách có vai trò quan trọng hàng đầu. Bên cạnh đó, cùng việc thực hiện các nhiệm vụ có tính chất chung toàn xã hội, hàng năm Chính phủ vẫn có sự chú ý đặc biệt cho tầng lớp dân cư có thu nhập thấp: Chi trợ cấp xã hội, chính sách việc làm, hàng hoá công cộng,. Bên cạnh đó, thuế cũng được sử dụng để thực hiện vai trò tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội. c) Vai trò điều chỉnh trong lĩnh vực thị trường: Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, giá cả chủ yếu phụ thuộc vào cung cầu hàng hoá trên thị trường.
Do đó để ổn định giá cả, Chính phủ có thể tác động vào cung hoặc cầu hàng hoá trên thị trường. Sự tác động này không chỉ thực hiện thông qua thuế mà còn thực hiện thông qua các chính sách chi tiêu của ngân sách. Chính phủ cũng có thể dùng ngân sách nhằm khống chế và đẩy lùi nạn lạm phát một cách có hiệu quả thông qua việc thực hiện chính sách thắt chặt ngân sách (Dương Đăng Chinh, 2009). Khái niệm nội dung công tác quản lý thu ngân sách 2.1 Khái niệm và vai trò của quản lý thu ngân sách a) Khái niệm quản lý thu NS Thu NS được thực hiện bằng các hình thức: bắt buộc bao gồm thuế, phí, lệ phí, bán tài nguyên, tài sản quốc gia, các khoản thu trong các doah nghiệp nhà nước.
Ngoài ta tùy theo điều kiện cụ thể của mỗi nước mà còn có các hình thức động viên khác như hình thức trưng thu, trưng mua…Quản lý thu NS chính là quản lý các hình thức động viên đó (Dương Đăng Chinh, 2009). b) Vai trò quản lý thu NS - Góc độ đối với ngân sách: Quản lý thu NS nhằm khai thác, phát hiện, tính toán chính xác các nguồn tài chính của đất nước có thể động viên được, đồng thời không ngừng hoàn thiện các chính sách, chế độ thu, cơ chế tổ chức quản lý thu. - Góc độ góp phần tổ chức quản lý nền kinh tế: + Tạo môi trường thuận lợi về kinh tế - xã hội. + Hướng dẫn, kích thích, điều tiết phối hợp hoạt động.
+ Xử lý những việc ngoài khả năng tự giải quyết của các tổ chức và đơn vị. + Quản lý thu NS là công cụ quan trọng góp phần tạo môi trường kinh tế thuận lợi cho các cơ quan sản xuất, kinh doanh hoạt động. Môi trường thuận lợi là môi trường giá cả tương đối ổn định, lưu thông tiền tệ tiến hành tương đối trôi chảy, thị trường mở rộng, hoạt động tương đối có tổ chức (Dương Đăng Chinh, 2009). Nguồn thu ngân sách Theo Luật NSNN năm 2015, nguồn thu NS bao gồm: a) Toàn bộ các khoản thu từ thuế, lệ phí; b) Toàn bộ các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện, trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ; các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thực hiện nộp NS theo quy định của pháp luật; c) Các khoản viện trợ trong hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài cho chính phủ Việt Nam và chính quyền địa phương.
7 d) Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Đặc điểm công tác Quản lý thu ngân sách. - Quản lý thu ngân sách là hoạt động quản lý mà trong đó có đầy đủ các đặc điểm của hoạt động quản lý ngoài ra nó còn có các hoạt động quản lý riêng. - Đối tượng quản lý ở đây là các tổ chức và cá nhân có trách nhiệm giao nộp nghĩa vụ của mình khi tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Hoạt động sản xuất kinh doanh, công tác thu ngân sách diễn ra thường xuyên liên tục trong khi các chế tài còn chưa đồng bộ và chưa điều chỉnh kịp do đó dẫn tới tình trạng thu chưa đảm bảo theo quy định dẫn tới gây dư luận xấu cho xã hội và thất thoát cho ngân sách. - Hoạt động quản lý thu là một chuỗi các hoạt động từ lập dự toán, trình HĐND phê duyệt, triển khai tổ chức thu, thanh quyết toán. Nguyên tắc cơ bản trong quản lý thu ngân sách. - Đảm bảo tập trung một bộ phận nguồn lực tài chính quốc gia vào tay Nhà nước để trang trải các khoản chi phí cần thiết của Nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử.
- Đảm bảo khuyến khích, thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo ra nguồn thu của NSNN ngày càng lớn hơn. - Coi trọng yêu cầu công bằng xã hội, đảm bảo thực hiện nghiêm túc, đúng đắn các chính sách, chế độ thu do cơ quan có thẩm quyền ban hành (Dương Đăng Chinh, 2009). Nội dung công tác quản lý thu ngân sách 2. Lập kế hoạch thu ngân sách Lập kế hoạch thu NS là quá trình xác định các mục tiêu thu NS và lựa chọn các phương thức nhằm đạt được các mục tiêu đề ra.
Lập kế hoạch thu NS nhằm mục đích xác định mục tiêu thu NS cần phải đạt được bao nhiêu? và phương tiện để thực hiện thu NS nhằm đạt được các mục tiêu đó như thế nào? Lập kế hoạch thu NS phải đảm bảo đúng chính sách, chế độ thu NS hiện hành. Mọi khoản thu từ thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác phải được tổng hợp, phản ánh đầy đủ vào cân đối NS theo quy định của Luật NSNN; trên cơ sở dữ liệu thông tin quản lý về thuế; đánh giá sát khả năng thực hiện thu NS của 8 năm trước năm lập kế hoạch, dự báo các yếu tố thay đổi về năng lực đầu tư, phát triển sản xuất - kinh doanh và hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu năm có tính đến các yếu tố tác động của quá trình hội nhập quốc tế; tính toán cụ thể các yếu tố tăng, giảm thu do thực hiện các văn bản pháp luật về thuế mới sửa đổi, bổ sung, mở rộng cơ sở tính thuế (kể cả đối tượng và căn cứ tính thuế) và thực hiện lộ trình cắt giảm thuế quan theo cam kết quốc tế; yếu tố tăng thu từ tăng cường kiểm tra, thanh tra việc kê khai, nộp thuế của các tổ chức, cá nhân, các khoản thu được phát hiện qua công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán và tăng thu từ chỉ đạo quyết liệt chống thất thu, thu số thuế nợ đọng từ các năm trước, các khoản thu từ các dự án đầu tư đã hết thời gian ưu đãi (Võ Đình Hảo, 2012). Tổ chức thực hiện quản lý thu ngân sách Tổ chức thực hiện quản lý thu NS là cơ quan điều khiển hoạt động quản lý thu NS. Bộ máy quản lý bao gồm: một tập thể cán bộ, công chức cùng với các phương tiện quản lý được liên kết theo một số nguyên tắc, quy tắc nhất định nhằm đạt được các mục tiêu thu NS đã định.
Tổ chức thực hiện quản lý thu NS là quá trình dựa trên các chức năng, nhiệm vụ đã được xác định của bộ máy quản lý để xắp xếp về lực lượng, bố trí về cơ cấu, xây dựng về mô hình và giúp cho toàn bộ hệ thống quản lý thu NS hoạt động như một chỉnh thể có hiệu quả nhất. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý thu NS là một tổng thể các cơ quan chuyên môn hợp thành, các bộ phận này có mối liên hệ mật thiết hữu cơ phụ thuộc lẫn nhau được chuyên môn hoá , thực hiện các phần việc đã được giao nhất định với những trách nhiệm và quyền hạn nhất định nhằm thực hiện có hiệu quả quản lý thu NS (Võ Đình Hảo, 2012). Thực hiện quản lý thu ngân sách Thực hiện quản lý thu NS dựa trên chức năng quản lý Nhà nước về ngân sách bao gồm: - Tuyên truyền vận động người nộp NS: Công tác tuyên truyền, vận động người nộp NSNN được xác định rõ phải đạt được mục đích giúp cho các doanh nghiệp và mọi người dân hiểu được bản chất của thu NS, mục đích sử dụng tiền thu vào NS, lợi ích từ tiền nộp NS mà mỗi người dân được hưởng và lợi ích chung toàn xã hội. - Tập huấn công tác quản lý thu NS: Tập huấn công tác quản lý thu NS để nâng cao nghiệp vụ chuyên môn trong việc thu NS từ đó tăng hiệu quả trong thực hiện thu NS.