mở đầu của chu trình ngân sách, nó đặt cơ sở nền tảng cho nhưng khâu tiếp theo. Nó là quá trình phân tích, đánh giá khả năng và nhu cầu các nguồn tài chính để từ đó xác lập các chỉ tiêu thu, chi một cách đúng đắn, có căn cứ khoa học và thực tiễn; đồng thời trên cơ sở đó có thể xác lập những biện pháp về kinh tế - xã hội để tổ chức tốt các chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Hàng năm, trên cơ sở hướng dẫn của Uỷ ban nhân dân cấp trên, Uỷ ban nhân dân xã lập dự toán ngân sách năm sau trình Hội đồng nhân dân xã quyết định. [3] Lập dự toán NSX phải đảm bảo thực hiện đúng các yêu cầu sau đây: 1) Lập theo đúng nội dung, mẫu biểu, mục lục NSNN, thời hạn quy định.
2) Tuân theo các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức. 3) Đảm bảo nguyên tắc cân đối ngân sách. 4) Phải căn cứ vào điều kiện và nguồn kinh phí để lựa chọn các hoạt động, dự án cần ưu tiên bố trí vốn tránh dàn trải. Căn cứ lập dự toán là cơ sở để các cấp có thẩm quyền xác định nhiệm vụ, quyền hạn trong quản lý NSNN và quyết định dự toán ngân sách cho từng lĩnh vực, từng ngành, từng cấp, từng đơn vị.
Để việc lập dự toán đảm bảo tính chính xác và sát thực, cần dựa trên các căn cứ sau: - Các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội của xã thể hiện trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của xã đã được HĐND xã thông qua. - Chính sách, chế độ thu NSNN, cơ chế phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi của NSX và tỷ lệ phân chia nguồn thu do HĐND tỉnh quy định; - Chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách hiện hành như: chế độ tiền lương cán bộ, công chức xã, chi cho hoạt động của các ban, ngành, đoàn thể. - Số kiểm tra về dự toán NSX do UBND huyện thông báo; - Tình hình thực hiện dự toán NSX năm trước và một số năm liền kề, ước 17 thực hiện ngân sách năm hiện hành. - Dự báo những xu hướng và vấn đề có tác động đến NSX năm kế hoạch.
[3] b) Tổ chức chấp hành ngân sách xã * Chấp hành thu ngân sách xã Dự trên cơ sở các chính sách thu NSNN hiện hành, các chỉ tiêu thu nộp ngân sách đã được duyệt trong dự toán năm, mà trực tiết là dự toán tháng, quý để tổ chức chấp hành thu NSX sao cho vừa phải đảm bảo hoàn thành kế hoạch và phấn đấu hoàn thành vượt mức kế hoạch thu được giao lại vừa thực hiện nghiêm chỉnh các chính sách thu ngân sách của nhà nước. Với mỗi khoản thu thực tế phát sinh trên địa bàn luôn luôn phải đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời vào NSNN. Các khoản thu NSX đều phải được nộp vào tài khoản NSX tại Kho bạc nhà nước nơi giao dịch. Quá trình chấp hành thu NSX được quản lý chặt chẽ đến từng nội dung thu.
* Chấp hành dự toán chi ngân sách xã Các nguyên tắc chi NSX được quy định chi tiết tại Thông tư số 60/2003/TT- BTC của Bộ Tài chính. Việc thực hiện chi phải bảo đảm các điều kiện: - Đã được ghi trong dự toán được giao, trừ trường hợp dự toán và phân bổ dự toán chưa được cấp có thẩm quyền quyết định và chi từ nguồn tăng thu, nguồn dự phòng ngân sách; - Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức quy định; - Được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã hoặc người được uỷ quyền quyết định chi. Căn cứ vào dự toán chi cả năm, dự toán quý có chia tháng và tiến độ công việc, Ban Tài chính xã làm thủ tục chi trình Chủ tịch xã hoặc người được uỷ quyền quyết định gửi Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch và kèm theo các tài liệu cần thiết theo quy định của pháp luật. Việc thanh toán các khoản chi của NSX bằng Lệnh chi NSX.
Trên Lệnh chi NSX phải ghi cụ thể, đầy đủ chương, loại, khoản, mục, tiểu mục theo quy định của mục lục NSNN, kèm theo bảng kê chứng từ chi; đối với các khoản chi lớn phải kèm theo tài liệu chứng minh. Trường hợp thanh toán một lần có 18 nhiều chương, thì lập thêm bảng kê chi, chi tiết theo mục lục NSNN, trên bảng kê ghi rõ số hiệu, ngày tháng của Lệnh chi NSX, đồng thời trên Lệnh chi NSX phải ghi rõ số hiệu của bảng kê, tổng số tiền. c) Quyết toán ngân sách xã Quyết toán NSX là khâu cuối cùng của một chu trình ngân sách. Quyết toán NSX là việc tổng kết, đánh giá việc tổ chức thực hiện thu, chi ngân sách trong năm theo quyết định của các cơ quan có thẩm quyền, cũng như xem xét trách nhiệm pháp lý của chính quyền cấp xã trong việc huy động và sử dụng ngân sách.
Về số liệu: Số liệu trong báo cáo quyết toán ngân sách phải chính xác, trung thực, đầy đủ. Số quyết toán thu NSX là số thu đã thực nộp hoặc đã hạch toán thu NSX qua Kho bạc Nhà nước; Số quyết toán chi NSX là số chi đã thực thanh toán hoặc đã được phép hạch toán chi theo quy định. Về nội dung: Báo cáo quyết toán ngân sách phải theo đúng các nội dung trong dự toán được giao và theo mục lục NSNN; Báo cáo quyết toán của các đơn vị dự toán và ngân sách các cấp chính quyền địa phương không được quyết toán chi lớn hơn thu. Báo cáo quyết toán năm phải có báo cáo thuyết minh nguyên nhân tăng, giảm các chỉ tiêu thu, chi ngân sách so với dự toán.
Về trách nhiệm: Chủ tịch UBND xã phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của báo cáo quyết toán NSX. Tổ chức bộ máy quản lý ngân sách xã Theo quy định tại Thông tư số 60/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính Quy định về quản lý NSX và các hoạt động tài chính khác của xã, phường, thị trấn, thì UBND các cấp có kế hoạch cụ thể từng bước củng cố Ban Tài chính của các xã để Ban Tài chính xã thực hiện tốt chức năng giúp UBND xã quản lý NSX và các hoạt động tài chính khác của xã theo chế độ quy định. Chức danh và số lượng cán bộ của Ban Tài chính xã căn cứ vào khối lượng công việc, quy mô thu, chi và định biên được Chính phủ quy định tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ chính sách đố với cán bộ, công chức xã phường, thị trấn và những 19 người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã. Ban Tài chính xã thường có 3 người: 1 cán bộ Tài chính kế toán, cán bộ tài chính kế toán làm việc theo chế độ hợp đồng lao động và 1 thủ quỹ.
Cán bộ Tài chính kế toán là uỷ viên Uỷ ban nhân dân phụ trách công tác tài chính, có nhiệm vụ giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã tổ chức thực hiện công tác quản lý NSX và các hoạt động tài chính khác của xã. Cán bộ Tài chính kế toán phải là người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tối thiểu trung cấp tài chính kế toán; ở miền núi cao đặc biệt khó khăn, tối thiểu phải qua đào tạo ngắn hạn chuyên ngành tài chính kế toán. Cán bộ tài chính kế toán làm việc theo chế độ hợp đồng có nhiệm vụ giúp cán bộ tài chính quản lý hoạt động thu, chi NSX và các hoạt động tài chính khác ở xã; Thủ quỹ có nhiệm vụ quản lý quỹ tiền mặt của xã (đối với xã có quy mô thu chi nhỏ có thể sử dụng cán bộ kiêm nhiệm, nhưng không được là cán bộ kế toán xã). Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý ngân sách xã Trong điều kiện hiện nay, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đang là nhân tố ảnh hưởng lớn đến phân cấp quản lý NSNN ở mỗi quốc gia, mỗi địa phương.
Bởi lẽ, sự tác động của toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã làm thay đổi chức năng nhiệm vụ của nhà nước trong thời kỳ mới. Trong thời kỳ hội nhập, nhà nước không can thiệp sâu và trực tiếp vào nền kinh tế mà chỉ đóng vai trò là người cầm cân nảy mực, tạo môi trường hành lang pháp lý cho nền kinh tế ở tầm vĩ mô, việc đầu tư trực tiếp vào nền kinh tế bằng nguồn vốn NSNN chỉ tập trung ở những khâu trọng yếu không có khả năng thu hồi vốn và đáp ứng các nhu cầu phúc lợi xã hội. Vì vậy, đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới công tác quản lý NSX a) Thể chế tài chính Thể chế tài chính quy định phạm vi, đối tượng, thu, chi của cấp chính quyền xã; quy định, chế định việc phân công, phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi của các cấp chính quyền; quy định quy trình, nội dung lập, phân bổ, chấp hành và quyết toán NSX. Quy định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của cơ quan nhà nước trong quá trình quản lý, sử dụng NSX.
Thể chế tài chính quy định, chế định những nguyên 20 tắc, chế độ, định mức chi tiêu. Do vậy, nói đến nhân tố ảnh hưởng đến quản lý NSX phải trước hết phải nói đến thể chế tài chính. Vì đó chính là những văn bản của nhà nước có tính quy phạm pháp luật chi phối mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước trong quá trình quản lý NSX .[3] b) Phân cấp quản lý ngân sách xã trong hệ thống ngân sách nhà nước Phân cấp quản lý NSNN là xác định phạm vi, trách nhiệm và quyền hạn của chính quyền nhà nước các cấp trong việc quản lý, điều hành thực hiện nhiệm vụ thu, chi ngân sách, gắn NSNN với các hoạt động kinh tế - xã hội ở từng địa phương một cách cụ thể nhằm nâng cao tính năng động, tự chủ.[3] c) Nhận thức của địa phương trong công tác quản lý ngân sách xã Lãnh đạo địa phương phải nắm vững các yêu cầu, nguyên tắc quản lý NSX, hiểu rõ nguồn gốc của NSX và phải được quản lý đầy đủ, toàn diện ở tất cả các khâu từ lập, phân bổ dự toán ngân sách, chấp hành, quyết toán ngân sách và thanh tra, kiểm tra NSX. [3] d) Tổ chức bộ máy và trình độ đội ngũ cán bộ quản lý ngân sách xã Trình độ quản lý của con người là nhân tố quan trọng, quyết định sự thành công, chất lượng của công tác quản lý NSX.