Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản lý Ngân sách Nhà nước. - Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. - Chương 3: Thực trạng quản lý Ngân sách Nhà nước tỉnh Hà Giang giai đoạn 2011 - 2013. - Chương 4: Phương hướng và giải pháp nâng cao công tác quản lý Ngân sách Nhà nước tỉnh Hà Giang.
3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU Quản lý NSNN có vai trò rất quan trọng trong ổn định, tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội và nó càng quan trọng hơn khi nguồn lực ngân sách bị thiếu hụt nhưng đòi hỏi công tác quản lý NSNN phải hiệu quả. Các nhà nghiên cứu lĩnh vực quản lý NSNN cũng chứng minh rằng nếu quản lý NSNN không hiệu quả, sử dụng NSNN để đầu tư dàn trải, chi tiêu quá mức kiểm soát sẽ dẫn đến tình trạng thâm hụt ngân sách và làm cho nền kinh tế rơi vào tình trạng bất ổn. Vì vậy, vấn đề quản lý NSNN trở thành đối tượng nghiên cứu trong các đề tài nghiên cứu khoa học ở cấp bộ, sở ban ngành, sách chuyên khảo, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, … Một số nghiên cứu liên quan đến nội dung quản lý NSNN trong thời gian gần đây phải kể đến Trần Xuân Hải (2011), Tô Thiện Hiền (2012) và Bùi Thị Quỳnh Thơ (2013).
Trong đó: Trần Xuân Hải (2011) đã làm rõ cơ sở lý luận về NSNN và quản lý NSNN; phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý tài chính công ở nước ta trong giai đoạn 2001-2010 và kết luận vẫn còn những hạn chế nhất định, thể hiện trong việc phân cấp quản lý ngân sách, trong công tác quản lý thu - chi NSNN, xử lý bội chi ngân sách, quản lý nợ công cũng như tài chính của các đơn vị sự nghiệp cung cấp dịch vụ công cộng. Thực trạng đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục hoàn thiện công tác quản lý tài chính công. Việc hoàn thiện công tác quản lý tài chính công như thế nào để đảm bảo có được một nền tài chính công lành mạnh và bền vững, có khả năng chống đỡ với những biến động từ nền kinh tế toàn cầu. Đó chính là nội dung chính của đề tài nghiên cứu.
4 Tô Thiện Hiền (2012) đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước và quản lý ngân sách của tỉnh. Góp phần làm sáng tỏ lý thuyết về vị trí, vai trò của hệ thống ngân sách địa phương An Giang và mối quan hệ hữu cơ trong quan hệ cân đối giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương theo nguyên tắc phát triển kinh tế ngành và lãnh thổ (khu vực). Phân tích rõ về hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước tỉnh An Giang, đánh giá những thành tích đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế cần khắc phục. Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý ngân sách địa phương trên các góc độ: phân định quản lý thu, chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; về chu trình ngân sách (lập, chấp hành và quyết toán ngân sách).
đã đóng góp tích cực cho quá trình đổi mới và hoàn thiện quản lý NSNN ở tỉnh An Giang. Bùi Thị Quỳnh Thơ (2013) đã hệ thống hoá và làm rõ thêm được các vấn đề lý luận về tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội; NSNN, chi và quản lý chi NSNN với những nội dung cụ thể: mục tiêu, nguyên tắc và phương thức của quản lý chi NSNN.; quản lý chi NSNN với việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Luận án cũng đã trình bày một cách khái quát thực trạng quản lý chi ngân sách thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh về hệ thống cơ chế, chính sách liên quan đến quản lý chi ngân sách địa phương trên các mặt: cải thiện cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội; công bằng xã hội. Từ đó, rút ra những kết quả đạt được và những hạn chế cùng với những nguyên nhân của việc quản lý chi NSNN trong những năm vừa qua.
Nghiên cứu về kinh nghiệm quản lý chi NSNN tác giả đã đưa ra một số vấn đề về quản lý chi NSNN ở các nước kinh tế thị trường phát triển, về cải cách quản lý chi NSNN; quản lý ngân sách theo kết quả dầu ra và khuôn khổ ngân sách trung hạn…, rút ra các bài học có thể nghiên cứu vận dụng nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý chi NSNN trong điều kiện hiện nay ở Việt nam nói chung và 5 tỉnh Hà Tĩnh nói riêng. Trên cơ sở trình bày định hướng về phát triển kinh tế - xã hội và mục tiêu hoàn thiện quản lý chi ngân sách thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh với những quan điểm hoàn thiện quản lý chi ngân sách địa phương, tác giả luận án đã nghiên cứu đề xuất một hệ thống gồm các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách địa phương. Trong đó, giải pháp áp dụng quy trình lập dự toán và phân bổ ngân sách trên cơ sở khuôn khổ chi tiêu trung hạn hướng theo kết quả đầu ra; hoàn thiện cơ chế quản lý chi ngân sách. Tuy nhiên, luận án chưa làm rõ được đặc thù riêng của tỉnh khi áp dụng phương thức quản lý mới, các phương thức quản lý, quy trình quản lý chi NSNN nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh khác nhau thì có gì khác nhau.
Tài liệu hội thảo về "Cơ chế quản lý NSNN-Thực trạng và giải pháp" (2012) do Khoa Tài chính công - Học viện Tài chính tổ chức. Các bài viết trong tài liệu đã khát quát được Những vấn đề lý luận chung về quản lý NSNN, những vấn đề về quản lý chi NSNN, những vấn đề về bội chi NSNN và nợ công, kinh nghiệm quốc tế về quản lý NSNN, và một số những vấn đề liên quan khác. Tuy nhiên, ở mức độ nghiên cứu bài viết để tham gia hội thảo, nên các tác giả chỉ khát quát một số vấn đề cơ bản nhất về lý luận quản lý NSNN, những vấn đề nổi cộm và giải pháp khắc phục chung nhằm nâng cao hiệu quả quản lý NSNN. Các công trình nghiên cứu này đã đi sâu vào các vấn đề chủ yếu của công tác quản lý ngân sách nhà nước là thu, chi và phân cấp quản lý ngân sách nhà nước.
Riêng đối với công tác quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Giang những năm gần đây chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về vấn đề này. Vì vậy tôi chọn đề tài này với mong muốn góp phần tăng cường công tác quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Giang. KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG VÀ HỆ THỐNG NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Khái niệm ngân sách Nhà nƣớc Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế mang tính lịch sử, nó phản ánh những mặt nhất định của các quan hệ kinh tế thuộc lĩnh vực phân phối sản phẩm xã hội trong điều kiện còn tồn tại quan hệ hàng hóa – tiền tệ và được sử dụng như một công cụ thực hiện các chức năng của Nhà nước.
Điều này có nghĩa là sự ra đời và tồn tại của NSNN gắn liền với sản xuất hàng hóa, với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước. Trong thực tiễn, thuật ngữ ngân sách thường để chỉ tổng số thu và chi của một đơn vị trong một thời gian nhất định. Một bảng tính toán các chi phí để thực hiện một kế hoạch, hoặc một chương trình cho một mục đích nhất định của một chủ thể nào đó. Nếu chủ thể đó là Nhà nước thì được gọi là NSNN.
Khi nói về NSNN, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm NSNN. Theo Luật Ngân sách Nhà nước của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ hai thông qua ngày 16/12/2002 có hiệu lực từ năm 2004 thì "Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước". Khái niệm này có thể coi là cơ bản và đầy đủ nhất. Bản chất của ngân sách Nhà nƣớc Để có cách nhìn nhận đầy đủ về bản chất của NSNN một cách toàn diện cả về phương diện khoa học và thực tiễn.
Đồng thời với tư cách là công cụ của Nhà nước, cần phải xem xét trên các góc độ sau: - Thứ nhất, góc độ khoa học: NSNN là phạm trù kinh tế - lịch sử. - Thứ hai, góc độ kinh tế - xã hội: NSNN phản ảnh tổng thể các quan hệ kinh tế - xã hội thông qua quan hệ động viên các nguồn lực tài chính và phân phối các nguồn lực tài chính đó cho các mục tiêu kinh tế - xã hội. 7 - Thứ ba, góc độ nội dung vật chất: NSNN là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất, được sử dụng để thực hiện các chức năng của Nhà nước. - Thứ tư, góc độ quản lý : NSNN là kế hoạch tài chính cơ bản của Nhà nước (hay là bảng cân đối thu, chi chủ yếu của Nhà nước), được thực hiện trong một thời kỳ.
- Thứ năm, góc độ pháp lý: NSNN là một đạo luật tài chính. Từ cách tiếp cận trên, có thể rút ra về bản chất của NSNN: là tổng thể các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn lực tài chính của xã hội để hình thành quỹ tiền tệ tập trung nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ kinh tế - xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định. Các quan hệ kinh tế thuộc phạm trù ngân sách nói trên bao gồm: Quan hệ giữa NSNN với các tổ chức kinh tế; Quan hệ giữa NSNN với các cơ quan chức năng của nhà nước; Quan hệ NSNN với các tầng lớp dân cư; Quan hệ NSNN với các định chế tài chính quốc tế, các Chính phủ và các tổ chức phi Chính phủ. Những phân tích trên đã hình thành những yếu tố quan trọng để nhìn nhận một cách toàn diện, khoa học, thực tiễn về bản chất của NSNN, trong tư cách vừa là phạm trù kinh tế vừa là công cụ kinh tế của Nhà nước.