CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ, PHƯỜNG Ở VIỆT NAM 1. Cơ sở lý luận về ngân sách nhà nước nói chung 1. Khái niệm về ngân sách nhà nước NSNN là một phạm trù kinh tế mang tính lịch sử, nó phản ánh những mặt nhất định của các quan hệ kinh tế thuộc lĩnh vực phân phối sản phẩm xã hội trong điều kiện còn tồn tại quan hệ hàng hóa - tiền tệ và được sử dụng như một công cụ thực hiện các chức năng của Nhà nước. Điều này có nghĩa là sự ra đời và tồn tại của NSNN gắn liền với sản xuất hàng hóa, với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước.
Luật NSNN số 83/2015/QH13 ban hành ngày 23/05/2015 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII định nghĩa: “ NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” 1. Bản chất của ngân sách nhà nước Tài chính nói chung và ngân sách nói riêng là phạm trù kinh tế - lịch sử. Là phạm trù kinh tế, nó gắn với sự phát triển kinh tế - hàng hóa; là phạm trù lịch sử nó gắn với sự ra đời và phát triển của Nhà nước và là công cụ kinh tế của Nhà nước. Thông qua Nhà nước sử dụng ngân sách để thực hiện các quan hệ phân phối dưới hình thái giá trị các nguồn lực tài chính, bằng việc huy động một bộ phận thu nhập của xã hội dưới hình thức thuế và các hình thức động viên khác để đáp ứng các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của Nhà nước.
Việc thực hiện các quan hệ phân phối nói trên, chủ yếu thông qua quyền lực chính trị của Nhà nước, 5 Bằng thể chế hóa của pháp luật, để động viên các nguồn tài chính có tính chất bắt buộc và hình thành quỹ tiền tệ tập trung, phục vụ cho các chức năng của Nhà nước đương quyền. Do đó bản chất của NSNN được thể hiện trong các lĩnh vực sau: - Thứ nhất: trên góc độ khoa học – ngân sách là phạm trù kinh tế - lịch sử. - Thứ hai: nhìn từ góc độ kinh tế - xã hội – ngân sách phản ánh tổng thể các quan hệ kinh tế - xã hội thông qua quan hệ động viên các nguồn lực tài chính và phân phối các nguồn lực tài chính đó cho các mục tiêu kinh tế - xã hội. - Thứ ba: trên góc độ nội dung vật chất – ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất, được sử dụng để thực hiện các chức năng của Nhà nước.
- Thứ tư: nhìn trên góc độ quản lý – ngân sách là kế hoạch tài chính cơ bản của Nhà nước hay là bảng cân đối thu – chi chủ yếu của Nhà nước. - Thứ năm: từ góc độ pháp lý – NSNN là đạo luật tài chính cơ bản năm tài chính. NSNN là hệ thống (tổng thể) các quan hệ kinh tế, gắn liền với quá trình phân phối các nguồn lực tài chính của xã hội để hình thành quỹ tiền tệ tập trung nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ kinh tế - xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định. Vai trò của ngân sách nhà nước 1.1 Vai trò của NSNN trong nền kinh tế quốc dân NSNN – công cụ huy động nguồn tài chính và đảm bảo các nhu cầu chi tiêu của nhà nước NSNN là một công cụ đắc lực của Nhà nước – NSNN giữ vai trò trọng yếu trong việc động viên và phân phối các nguồn lực tài chính để bảo đảm 6 việc thực thi các chức năng của Nhà nước đương quyền, thông qua các chính sách thuế: thuế trực thu, thuế gián thu, phí và các nguồn thu khác.
Thuế là khoản thu có tính chất bắt buộc được quyết định bởi quyền của Nhà nước thông qua hệ thống pháp lý, đồng thời thuế là khoản thu không hoàn trả. Ngoài thuế, phí,. NSNN còn động viên các nguồn tài chính khác dưới hình thức nợ công như: phát hành công trái (trái phiếu hay tín dụng nhà nước), vay nợ nước ngoài (ODA) và tín dụng quốc tế (IMF, WB, ADB,.) Mặt khác, để giữ vững cân đối thu – chi ngân sách và phát triển nguồn thu bền vững, thì quá trình huy động các nguồn lực tài chính cho NSNN cũng cần phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản trong động viên các nguồn lực được quy định rrong văn bản hướng dẫn số 125/2015/STC ngày 10/1/2015 của Sở Tài chính Hải Phòng đó là: * Bảo đảm quan hệ cân đối, hợp lý giữa tích tụ vốn và tập trung vào vốn để tạo điều kiện bồi dưỡng, tái tạo các nguồn lực tài chính lâu bền. * Bảo đảm công bằng xã hội và hợp lý đối với các loại hình kinh doanh * Bồi dưỡng các nguồn thu và kích thích tăng trưởng kinh tế.
+ Bảo đảm nhu cầu chi tiêu của Nhà nước: Chi NSNN nhìn một cách bao quát là chỉ để đảm bảo việc thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước đương quyền. Trong đó, có thể phân thành 3 nội dung chi cơ bản: chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên và chi dự trữ quốc gia. + Dự trữ quốc gia: Dùng để chi đảm bảo an ninh kinh tế. Ngoài ra nó còn là nguồn lực để ứng phó với mọi rủi ro trong kinh tế và đối mặt với những tình huống khẩn cấp trong nước và quốc tế.
Nhìn chung thường xuyên bảo đảm cân đối thu – chi ngân sách thực hiện chính sách tài khóa tích cực, chi NSNN cần tuân thủ các nguyên tắc trong phân phối vốn ngân sách như sau: 7 * Tiết kiệm tối đa và hợp lý trong tiên dùng vốn NSNN. * Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm đầu trong dùng vốn NSNN chi cho đầu tư phát triển. - Ngân sách nhà nước là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội. Điều tiết vĩ mô được thực hiện thông qua một hệ thống các công cụ như: chiến lược, kế hoạch (định hướng và hướng dẫn), pháp luật (điều tiết hành vi) và các công cụ kinh tế tài chính (thuế, lãi suất tín dụng, chiết khấu.
Trong lĩnh vực tài chính, NSNN giữ vai trò rất quan trọng thông qua chính sách động viên các nguồn lực tài chính và đầu tư phát triển” 1. Hiệu quả quản lý NSNN và các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý ngân sách nhà nước 1. Hiệu quả quản lý NSNN Hiệu quả quản lý NS nhìn tổng quát ở kết quả cuối cùng là thực hiện cân đối tích cực hệ thống NSNN. Tính cân đối đó được bảo đảm bởi nhiều yếu tố tham dự: Luật NSNN, quy trình NSNN, thiết chế phân cấp NS, phương thức quản lý NS, cơ chế điều hành NS, các quy tắc tác nghiệp trong hoạt động của NSNN,….
Do vậy, khi đánh giá hiệu quả quản lý NS cần có cách nhìn và đánh giá toàn diện về các yếu tố cấu thành trong hoạt động của NSNN. Theo đó để đánh giá hiệu quả quản lý NSNN cũng phải xét trên nhiều tiêu chí ở các cấp độ đó, cụ thể: - Hiệu quả tổng hợp: Được đánh giá thông qua việc xây dựng và thực hiện cân đối NSNN một cách tích cực trong năm tài khóa; mà thực chất của nó là cân đối thu – chi và “nội hàm” của nó là đáp ứng các chỉ tiêu kinh tế - xã hội được xác lập trong năm kế hoạch, tương ứng với năm tài khóa đó; trên các mọi phương diện. - Hiệu quả quản lý thu NSNN: Hiệu quả quản lý thu NSNN thể hiện ở việc khai thác hợp lý các 8 nguồn lực tài chính tiềm năng và sẵn có trong nền kinh tế quốc dân, đi đôi với bồi dưỡng và tăng cường các nguồn thu nhằm tiếp ứng yêu cầu ngày càng cao trong bảo đảm quan hệ cân đối NSNN. - Hiệu quả quản lý chi NS: Hiệu quả quản lý chi NSNN biểu hiện ở sự phân phối hợp lý, có tính trọng tâm, trọng điểm nhằm mang lại hiệu quả bền vững đối với đầu tư phát triển và tiết kiệm tối đa trong các khoản chi thường xuyên, để khắc phục bội chi NS trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội tương ứng đã được xác lập.
Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý NSNN - Điều kiện kinh tế - xã hội. Về kinh tế: Kinh tế ổn định, tăng trưởng và phát triển bền vững là cơ sở đảm bảo vững chắc của nền tài chính, mà trong đó NSNN là khâu trung tâm, giữ vai trò trọng yếu trong phân phối các nguồn lực tài chính quốc gia. Về mặt xã hội: Sự ổn định về chính trị - xã hội là cơ sở để động viên mọi nguồn lực và nguồn tài nguyên quốc gia cho sự phát triển. Mặc khác, chính trị - xã hội cũng hình thành nên môi trường và điều kiện để thu hút các nguồn vốn đầu tư trong nước và quốc tế, thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế cũng như tăng cường các nguồn lực tài chính.
- Chính sách và thể chế kinh tế Chính sách kinh tế - xã hội và thể chế kinh tế phù hợp với xu thế phát triển, có ý nghĩa quyết định đến việc khai thông các nguồn lực và tiềm năng quốc gia cũng như thu hút nhiều nguồn lực từ bên ngoài. - Cơ chế quản lý NSNN Đổi mới cơ chế quản lý hệ thống NSNN, mà trọng tâm là hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách, phân định thu – chi giữa các cấp ngân sách, mở rộng quyền chi phối quỹ dự trữ tài chính và quỹ dự phòng, nâng cao quyền tự quyết của NS cấp dưới trong hệ thống NSNN đã tạo ra những chuyển biến 9 tích cực trong quản lý hệ thống NS quốc gia. - Chính sách khai thác các nguồn lực tài chính Hệ thống các chính sách trích thưởng thu vượt kế hoạch vào NS các cấp NSĐP, quyền chi phối kết dư NS cuối năm và sử dụng quỹ dự trữ tài chính, quyền chi phối kết dư NS cuối năm và sử dụng quỹ dự trữ tài chính, quỹ dự phòng đã tạo ra động lực mạnh mẽ cho các cấp chính quyền địa phương, phát huy tính năng động sáng tạo trong khai thác các nguồn thu hiện hữu và các nguồn thu tiềm năng ở địa phương. Tổng quan lý luận về quản lý ngân sách nhà nước cấp phường 1.
Khái niệm và đặc điểm ngân sách phường 1. Khái niệm ngân sách phường “Ngân sách phường là một bộ phận của hệ thống ngân sách nhà nước.