CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG GIAO NHẬN 1. Khái quát chung về hoạt động giao nhận hàng hóa xuất nhập Về định nghĩa, đây là sự trao đổi hàng hóa giữa các nước khác nhau thông qua hoạt động mua bán. Khi hợp đồng mua bán đã được thỏa thuận giữa người mua và bán, người bán sẽ thực hiện việc giao hàng. Hàng hóa được vận chuyển từ người bán sang người mua.
Trong suốt quá trình từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc, khi mà hàng hóa đến được tay người mua cẩn phải thực hiện hàng loạt các công việc khác nhau liên quan đến quá trình vận chuyển như chuyên chở, đóng gói bao bì, lưu kho lưu bãi, vận chuyển hàng ra cảng, tiến hành thủ tục gửi hàng, xếp hàng lên tàu hay chuyển tải dọc đường, dỡ hàng khỏi tàu và giao cho người nhận. Tất cả những công việc trên được gọi dịch vụ giao nhận. Theo FIATA (Hiệp hội giao nhận kho vận quốc tế) dịch vụ giao nhận là bất kì loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả các vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hóa. Để đáp ứng được về nhu cầu hội nhập quốc tế, Quốc hội nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đưa ra định nghĩa mới về dịch vụ logistics trong Luật Thương Mại, được sửa đổi và ban hành ngày 14/6/2005 đó là:”Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc một nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi kỹ mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”.
Như vậy theo trích dẫn, logistics chính là các chuỗi dịch vụ về giao nhận hàng hóa. Trong luật Thương Mại đã xác định tính chất của dịch vụ giao nhận cũng 4 tương tự như các dịch vụ khác như giám định, buôn bán, quảng cáo, triển lãm,. đều là hành vi thương mại trong hoạt động thương mại. Khi đã là một hành vi thương mại thì sẽ phát sinh những quyền và nghĩa vụ giữa các bên mua và bên bán với nhau hoặc giữa các bên có liên quan đến hàng hóa dù là trực tiếp hay gián tiếp để vận chuyển hàng hóa từ tay người gửi tới tay người nhận hàng.
Mối quan hệ giữa các thương nhân là quan hệ hợp đồng ủy thác. Nhưng trong trường hợp người kinh doanh giao nhận có khả năng hành động như một người kinh doanh vận tải đa phương thức thì hợp đồng ủy thác chuyên chở hàng hóa cũng được coi như là hợp đồng giao nhận. Ngày nay khi tiến bộ khoa học kỹ thuật đã phát triển, các phương tiện tiên tiến ( như vận chuyển bằng đường hàng không, đường ống cho hàng siêu trường siêu trọng.) được con người sử dụng để vận chuyển hàng hóa ngày một phổ biến nhưng vận tải biển vẫn đứng vị trí số một. Đây là phương án vận tải xuất hiện từ rất sớm và phát triển mạnh mẽ nhanh chóng do con người biết tận dụng dòng chảy đại dương làm các tuyến đường như một lộ trình giao thông để chuyên chở hành khách và hàng hóa giữa nhiều nước với nhau.
Theo cách nói khách quan thì vận tải biển là phương pháp trọng yếu để đẩy mạnh nền kinh tế thương mại toàn cầu. Vận tải biển được cho là đảm bảo chuyên chở khoảng 80% lượng hàng mậu dịch thế giới. Chính vì vậy mà trong chính ngành vận tải biển cũng đang diễn ra các cuộc cạnh tranh gay gắt giữa các hãng tàu, đội tàu. Trước sức ép trong thị trường cạnh tranh gay gắt này và cũng để củng cố thị trường vận tải biển mở rộng hơn, “container hóa” đã được các công ty kinh doanh vận tải biển sử dụng hầu hết để đáp ứng yêu cầu chất lượng vận tải biển "tốt hơn, lớn hơn và nhiều hơn" nhằm đưa ra giá cước vận tải hợp lí.
Ngày nay người giao nhận đóng vai trò quan trọng trong thương mại quốc tế và vận tải quốc tế. Người giao nhận không chỉ làm các thủ tục hải quan, hoặc thuê tàu mà còn cung cấp dịch vụ trọn gói về toàn bộ quá trình vận 5 tải và phân phối hàng hoá. Ở các nước khác nhau người kinh doanh dịch vụ giao nhận được gọi các tên gọi khác nhau: “Đại lý hải quan” (Customs House Agent), “Môi giới hải quan” (Customs Broker), “Đại lý thanh toán” (Clearing Agent), “Đại lý gửi hàng và giao nhận” (Shipping and Forwarding Agent),” Người chuyên chở chính” (Principal Carrier),. Vai trò của dịch vụ giao nhận và người giao nhận, phạm vi hoạt động của người giao nhận 1.
Vai trò của hoạt động giao nhận Dịch vụ giao nhận hàng hóa được công nhận là một nghề và là một ngành công nghiệh. Người ta có thể trau dồi trình độ nghiệp vụ giao nhận ngày một nâng cao hơn nữa. Do đó giao nhận hàng hóa đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động ngoại thương nói riêng cũng như đối với nền kinh tế thế giới nói chung. Công tác về hoạt động giao nhận có hai tác dụng chính đó là giảm chi phí vận tải và tạo điều kiện cho người xuất nhập khẩu thực hiện có hiệu quả.
Trong quá trình mua và bán giữa các nước, chi phí vận tải chiếm một tỷ trọng tương đối cao trên giá trị từng lô hàng. Công tác giao nhận sẽ làm giảm chi phí vận tải nhưng cũng sẽ nâng cao tính cạnh tranh giữa các loại hàng hóa và giữa các doanh nghiệp. Người giao nhận cần có trình độ chuyên môn cao về vận chuyển hàng hóa, phải biết tận dụng tối đa lí thuyết và thực hành để áp dụng. Phải biết kết hợp giữa vận chuyển và giao nhận, có kiến thức rộng về xuất nhập khẩu và nên có quan hệ tốt với các tổ chức có liên quan đến quá trình vận tải hàng hóa như hải quan, đại lý tàu biển, nhà xe,.
Dịch vụ giao nhận hàng hóa phải đảm nhận toàn bộ trách nhiệm công việc kể từ khi bắt đầu giao hàng cho đến khi hàng đến tận tay người nhận hàng. Đồng thời phải chuẩn bị và có trách nhiệm kiểm tra toàn bộ chứng từ của lô hàng, đối chiếu với các quy định, trên cơ sở đó tham mưu cho khách hàng 6 nắm được thông tin bộ chứng từ một cách hoàn hảo để tiến hành công việc vận chuyển trôi chảy. Thông tin và thời gian mà hàng hóa được giao nhận phải khớp với thông tin trên chứng từ, như vậy mới đáp ứng được yêu cầu cần thiết của khách hàng. Thực chất đây là một ngành dịch vụ cần được chuyên môn hóa cao, cần được tổ chức trên quy mô toàn quốc gia và toàn thế giới.
Vì vậy ngành giao nhận qua từng thời kì đã có được ưu thế rõ ràng trong công tác cải thiện và đẩy mạnh các hoạt động thương mại quốc tế: • Nắm được những thông tin thị trường cần thiết như những mặt hàng được ưa chuộng, tên tuổi của các nhà xuất-nhập khẩu nổi tiếng. • Thông thạo các thủ tục yêu cầu, thông tin trên chứng từ, các luật lệ tập quán cần biết cũng như các khó khăn thường bắt gặp trong thương mại Quốc tế. • Nắm rõ ưu-nhược điểm của các loại phương tiện vận tải khác nhau, về thời gian, mức độ an toàn và giá thành. • Có kinh nghiệm trong việc lựa chọn bảo hiểm vận tải cho một lô hàng để phòng ngừa mọi rủi ro nhất là trong vận tải đường biển.
• Có điểm mạnh trong việc thực hiện cùng lúc nhiều vai trò khác nhau như gom hàng, phân loại hàng hóa, nghiên cứu về chiến lược vận tải đối với vận chuyển hàng công trình,. • Với những dịch vụ cung cấp cần thiết đi cùng những ưu thế nổi bật như trên, hoạt động giao nhận đóng vai trò ngày càng quan trọng, giúp theo sát và tối giản chi phí trong mua bán quốc tế cũng như khoảng thời gian lưu thông hàng hóa và khoảng cách địa lý giữa các nhà xuất, nhập khẩu. Vai trò của người giao nhận 7 Người kinh doanh các loại hình dịch vụ trong chuỗi cung ứng gọi là người giao nhận (Fowarder, fowarding agent). Theo luật Thương Mại Việt Nam hiện hành (Luật thương mại 1997), người giao nhận là thương nhân có giấy chứng nhận kinh doanh dịch vụ giao nhận.
Người làm dịch vụ giao nhận bắt buộc phải có kiến thức chuyên môn về nghiệp vụ thương mại cả trong và ngoài nước, về các tập tục, luật lệ trong quốc gia và quốc tế. Đồng thời phải có hiểu biết rộng về nhiều lĩnh vực khác liên quan mật thiết nhất như hàng không, bảo hiểm, tài chính ngân hàng,. Dưới sự phát triển mạnh của vận tải container, vận tải đa phương thức trong xã hội hiện đại ngày nay, người giao nhận ngoài đóng vai trò là đại lý, là người uỷ thác thì còn đóng vai trò như một Người chuyên chở (Carrier) để cung cấp dịch vụ vận tải. Một số vị trí và công việc cụ thể của người giao nhận: • Môi giới hải quan (Customs Broker): Thủ tục hải quan là một trong những khâu cần thiết của hoạt động giao nhận đối với cả hàng xuất khẩu và nhập khẩu.
Thủ tục này đặc biệt phức tạp và mỗi nước có một hình thức áp dụng khác nhau. Khi được nhà nước cho phép dựa trên cơ sở, người giao nhận sẽ thay mặt bên mua và bên bán để khai báo, làm thủ tục hải quan như một môi giới hải quan. • Đại lý (Agent): Người giao nhận trước đây không mang trách nhiệm giống người chuyên chở mà chỉ hoạt động như một cầu nối giữa người gửi hàng và người chuyên chở, được gọi như một đại lý. Người giao nhận tiến hành các công việc khác nhau như nhận hàng, giao hàng, lập bộ chứng từ, làm thủ tục hải quan, lưu kho.
trên cơ sở hợp đồng uỷ thác từ chủ hàng hoặc từ người chuyên chở. Và khi người giao nhận là đại lý, họ 8 nhận ủy thác từ chủ hàng để lo những công việc giao nhận hàng hóa xuất-nhập khẩu, bảo vệ lợi ích của chủ hàng, làm trung gian giữa người gửi và người nhận, người bán với người mua. Họ sẽ hưởng hoa hồng trên mỗi lô hàng và nếu có xảy ra tổn thất hàng hóa, thì điều đó không nằm trong phạm vi trách nhiệm của đại lý, họ chỉ chịu trách nhiệm về hành vi của bản thân chứ không chịu trách nhiệm về hành vi phát sinh từ bên thứ ba làm thuê cho mình hoặc cho chủ hàng.