Chương 1: TONG QUAN NANG SUÁT VA ĐỊNH MỨC NANG SUÁT MAY THI CÔNG XÂY DỰNG May xây dựng là các máy và thiết bị phục vụ công tác xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, quốc phòng, thủy lợi, giao thông vận tai, Máy xây dựng xuất hiện từ dau thể ki XIX, khi phát minh ra động cơ. Năm 1812 đã có máy nạo vét lòng sông. Năm 1836 máy xúc với dung tích gầu 1,14 mỶ có năng suất 30-40 m’/h ra đời. Sau đó là các loại máy.
trộn bê tông, máy lu đường và các loại thiết bị khác xuất hiện. thực sự được phát triển khi ra đời động cơ đốt trong, động cơ điện và ngày ang hoàn thiện. Việc nâng cao năng lực và hiệu quả sử dụng các trang thiết bị va phương tiện cơ giới déng vai trỏ rat quan trọng trong việc nâng cao chất lượng công trình, đẩy nhanh tiến độ thi công, nâng cao năng suất, đem. lại hiệu quả kinh tế va cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động.
cạnh đó, việc cơ giới hóa và tự động hóa trong xây dựng cũng là một khâu không thẻ thiếu được trong quá trình sản xuất. Nó quyết định việc tăng năng. xuất lao động, hạ giá thành sản phẩm, giảm nhẹ sức lao động chân tay và trí óc cho người lao động. Đồng thời góp phần rất quan trọng vào việc rit ngắn thời gian thi công, nhanh chồng đưa công trình vào khai thác sử dung, nâng cao hiệu quả kinh tế, chất lượng va tính thảm mỹ, day mạnh tốc độ tăng.
trưởng của nén kinh tế quốc dân. Để thực hiện các công trình xây dựng công nghiệp, đường si, cầu cống, sân bay, hải cảng hoặc đê đập. không thể thiếu được các máy xây. Do đồi hỏi ngày càng lớn về khối lượng và chất lượng xây dựng nên nhiều nước đã tập trung nghiên cứu và sản xuất các loại may xây dựng.
§ Trong những năm vừa qua, nước ta đã nhập và chế tạo thêm nhiều thiết bị máy móc với ching loại khác nhau, tỷ lệ trang bị phương tiện cơ giới và khối lượng khai thác tương đương với nhiều nước trong khu vực. Tinh cho đến nay cả nước có khoảng 50.000 máy móc xây dựng, tập trung chủ yếu ở 3 Bộ lớn: Bộ xây dựng, Bộ giao thông, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn ngoài ra còn có ở Bộ Quốc phòng và các đơn vị thi công chuyên ngành đường sắt và các cảng. Các máy xây dựng chủ yếu là nhập ngoại từ các nước XHCN cũ, 'TBCN thông qua các nguồn viện trợ cho nhiều hạng mục công trình nên rất da dạng về chủng loại Tir năm 1997 đến nay do nhu cầu xây dựng ngày cảng lớn mà có nhiều. công nghệ thi công mới đã được thâm nhập vào nước ta; vi vậy ngoài các máy truyền thống như máy ủi, máy dao, máy san, máy gia công đá.chúng ta còn.
có nhiều các loại máy thi công chuyên dùng thế hệ mới như các trạm trộn bê tông nhựa nóng (BTNN), máy rải thám mặt đường, máy khoan cọc nhi, các thiết bị lao lắp và đúc dim phục vụ công tác thi công cầu. Trong lực lượng các máy xây dung và xếp dỡ hiện dang khai thác ở nước ta có những máy hiện đại, có công suất lớn được sử dụng để khai thác các công trình tập trung cỡ lớn như công trình xây dựng các nhà máy thuỷ điện, thuỷ lợi, các khu công nghiệp, các ciu, cảng.ví dụ, chúng ta đã có máy ủi vạn năng công suất 410, 620 mã lực như máy D355A và D455A của hãng Komatsu Nhật Bản, máy đảo 1 gầu dung tích lớn hơn Im3 của hãng Caterpiler Đức, Hàn Quốc. Trong lĩnh vực xây dựng cầu ngày nay chúng ta cũng đã được trang bị các thiết bị để thi công theo công nghệ mới hiện đại: dan xe đúc hing Mỹ, Italia, xe lao dim 33m, các loại cin trục nổi, cần trục bánh xích có tai nâng từ 50 - 80 tắn. tram trộn bêtông xi mang năng suất 30 ~ 200mÌ/h, máy bom bêtông năng suất 50 - 60m”/h.
6 Với yêu cầu của công nghệ xây dựng tiên tiến, giảm 6 nhiễm môi trường, ngành sản xuất máy xây dựng đã không ngừng cải tiến các sản phẩm của minh về kiểu dáng công nghiệp, suất tiêu hao nhiên liệu, tiện nghỉ buồng lái, sự tiện lợi trong bảo dưỡng, sửa chữa, độ tin cậy, năng suất, chúng loại, bộ công tác. đáp ứng mọi khía cạnh của nhu cầu sản xuất và đảm bảo hiệu quả kinh tế. Trong nội dung của luận văn nay, ta chỉ dé cập tìm hiểu về chức năng, khả năng làm việc của máy ủi dat dé hiệu quả công tác thi công đạt năng suất cao nhất May ủi là máy kéo được lắp thêm thiết bị công tác là lười ủi vào. Đây là loại máy thi công dat theo một chuỗi các công tác đảo đất, vận chuyển đất bằng ban gạt (ii dat), rải dat ra trên mặt bang san, Máy được sử dụng dé san ủi dat, đá, hoặc một số vật liệu rời khác, phục vụ thi công công trình xây dựng.
trong công nghiệp, giao thông, thủy lợi, nông nghiệp và các công trình phát triển cơ sở hạ ting khác. Máy là loại máy thi công công tác san đất. Nó có thé đào đất và đắp đất với độ sâu đào và chiều cao đắp khoảng 1 + 1,5 m, nhưng không quá 2 m. Đồng thời nó có thé vận chuyển dit đi với khoáng cách tối da khoảng 100 = 180 m, thuộc vào loại máy san có cự ly vận chuyển trung bình Cự ly vận chuyển đất thích hợp và hiệu quả nhất là khoảng 25 + 100 m.
May ủi thích hợp công tác với các loại dat cắp I, II, III. Còn nếu phải công tác đất cấp IV thi cần phải làm tơi trước bằng các loại máy dao khác, trong trường hợp nay chủ yếu máy ủi Lim nhiệm vụ vận chuyển và đắp đất. Khi vận chuyển. đất máy ủi có thể leo đốc với độ dốc nhỏ khoảng 10-20 % (máy ủi không nên leo đốc có độ dốc quá 30 %).
Đề tài nghiên cứu máy ủi có vai trỏ như máy chủ đạo trong day truyền thi công dat được gọi chung là công tác san đất. Công tác san dat, hay còn gọi là san mặt bằng hoặc san lắp mặt bằng, là công việc thi công san phẳng nén đất một công trình xây dựng hay một mặt bằng quy hoạch, từ một mặt đắt có 7 địa hình tự nhiên cao thấp khác nhau. San phẳng là việc đảo những chỗ đất ‘cao nhất trong nội tại vùng dat đó vận chuyển đến các vùng thap nhất và đắp vào những chỗ thấp đó, nhằm làm phẳng lai bề mặt địa hình vùng đất đó theo chủ định trước của con người (mặt thiết kế định trước, có kể đến độ đốc thoát nước bề mặt). Như vậy bản thân công tác san dat thường bao gồm các công.
tác đảo dat, vận chuyển dat và đắp dat. Trong công tác san đất, đầu tiên, đất thi công chủ yếu được lấy ngay bên trong phạm vi công trường. Lượng đất thừa hay thiếu phải liên hệ với bên. ngoài phạm vi công trường, thường chỉ là nguồn bỏ trợ hay chỉ chiếm khối lượng nhỏ, hoặc thậm chí không có (như khi san cân bằng dao dip), 1.1, Giới iệu năng suất máy 1.
Định nghĩa năng suất máp' Năng suất của máy được đặc trưng hay biểu thị bằng khối lượng sản phẩm do máy làm ra trong một đơn vị thời gian (m⁄h; Tíh, T/km-h. Có ba loại năng suất máy: tăng suất lý thuyết: được xác định trong điều kiện máy phải làm việc liên tục với cường độ và tai trọng tính toán theo thiết kế chế tạo. = Năng suất kỹ thuật: được xác định tương tự năng suất lý thuyết, nhưng có xét đến điều kiện thực tế của đối tượng thi công như loại đất, dia hình va môi trường tương ứng 01 giờ làm việc ~ Năng suất thực tế: là lượng sản phẩm do máy làm ra trong một giờ, một ca hoặc một năm. Năng suất thực tế phụ thuộc nhiều vào trình độ của.
người sử dụng, trình độ t6 chức quản lý thi công, phương án thi công 1. Các nhân tổ ảnh hưởng đến năng suất may Tủy vào chức năng, nhiệm vụ của máy năng suất của nó chịu ảnh hưởng bởi các yếu tổ sau: 8 ~ Kết cấu của máy - mức độ hoàn thiện của kết cấu máy sẽ Lim ting năng suất khai thác của máy trong quá trình sử dụng. - Công suất của máy - thông thường công suất của máy tăng sẽ làm năng suất của máy tăng nhanh hơn. = Đặc điểm của đối tượng khai thác (chất dat, loại đá, thành phần bê tông, đặc điểm của nén .) ~ Địa hình thi công.
- Trình độ điều khiển máy của người lái - Chất lượng và độ tin cậy của máy. - Trình độ tổ chức thi công, ~ Phục vụ kỹ thuật máy, ~ Các yếu tổ về thời tiết, khí hậu. ~ Các yếu tổ về xã hội, nhân văn tương tác giữa người - ‘iy. Phân loại và phương pháp xác định năng suất may 1.1, Phân loại may Máy xây dựng có rit nhiều chủng loại và đa dang, có thé phân loại theo những cơ sở khác nhau như: theo công dụng, theo nguồn động lực, theo hệ thống điều khiển,.
Trong phân nay ta chi căn cứ vào tinh năng hoạt động để phân loại như sau: ~ Máy hoạt động có chu kỳ: ~ Máy hoại động liên tục 1.2, Phân loại năng suất - Năn dt lý thuyết: được xác định trong điều kiện máy phải làm việc liên tục với cường độ và tải trong tinh toán theo thiết kế chế tạo. - Năng suất kỹ thuật: được xác định tương tự năng suất lý thuyết, nhưng có xét đến điều kiện thực tế của đổi tượng thi công như loại dat, địa hình và môi trường làm việc, Hình1.2:Máyoạtđộngliêục 10 ~ Năng suất thực tế: là lượng sản phẩm do máy lim ra trong một giờ, một ca hoặc một năm. Năng suất thực tế phụ thuộc nhiều vào trình độ của. người sử dụng, trình độ t6 chức quản lý thi công.
Phương pháp xác định năng suất may a) Năng suất lý thuyết: là trị số năng suất được xác định theo các thông số thiết kế kết cấu của máy. Năng suất lý thuyết được xác định với giả thiết rằng máy lâm việc trong những điều kiện lý tưởng về mọi phương diện: Như điều kiện chất tải là tối đa, điều khiển máy thành thạo, đối tượng khai thác có tiêu chuẩn mẫu, thời tiết thuận lợi Nang suất lý thuyết là một trị số cố định cho mỗi loại mã hiệu máy. Trị số năng suất chi tăng khi kết cầu của máy được hoàn thiện hon, Năng suất lý thuyết của máy được thể hiện trong catalog nhằm mục đích để người sử dụng. có cơ sở so sánh và lựa chọn máy.