CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE DAU THAU CUA DOANH NGHIỆP XÂY DUN 1. Tổng quan về đấu thầu ở Việt Nam trong thời gian qua 1. Khái niệm chung về dau thầu. piu thầu là bình thức có một người mua và nhiễu người bán cạnh ranh nhau.
Người mua sẽ lựa chọn người bản nào đáp ứng được một cách tốt nhất các yêu cầu mà minh đặt ra. Hay nối cách khác đầu hầu là quá tình lựa chọn nhà thầu đáp ứng được các ðï hầu trên cơ sở cạnh tranh giữa các nhà thầu BBên mời thi là chủ dự án, chủ đầu ur hoặc pháp nhân đại diện hợp pháp của chủ dự án, chủ đầu tr được giao trách nhiệm thục hiện công việc đấu thầu. Nhà thầu là tổ chức kinh tế có đủ tr cích pháp nhân tham gia đấu thầu. Trong trường hợp đầu thiu tuyển chọn tư vấn, nhà thẫu có thé là cá nhân.
Nhà thằu là nhà xây đụng ong đầu thầu xây lấp 8 nhà cung cấp tong xắn trong đầu thầu uyển chọn tư vin là nhà đầu tr trong đầu thầu lựa chon đối ác đầu tư. Nhà thâu trong nước là nhà thâu có tư cách pháp nhân Việt Nam và hoạt động hợp. pháp tại Việt Nam. Gối thầu là toàn bộ dự án hoặc một phần công việc của dự án, được.
a theo tính chit kỹ thuật hoặc tình tự thự hiện dự án, có quy mô hợp lý và đảm bảo tinh đồng bộ của dự án. Gói thầu được thực hiện theo một hoặc nhiều hợp đồng. Tựvấn đâu thẫu là: Đơn vị được Chủ đầu tr lựa chọn để thực hiện công tác lập hỗ sơ mời thầu, phân tích đánh giá hd sơ dự thầu để lựa chon nhà thầu cung cắp cúc dich vụ cho Chủ đầu tư để thực hiện dự án. ‘hur vậy đấu thầu thực chấ là quá tình thỏa mãn nhủ cầu của cả hai chủ thể cơ bản là bên mời thầu và nhà thầu tham gia vào quá trình đấu thầu đẻ sao cho thực hiện dự án một cách hiệu quả nhất 1.
Khái niệm về đầu thầu xây dựng. Đầu thầu xây dựng là quá tình lựa chọn nhà thầu đáp ứng được các yêu cẫu vé xây dựng, ấp đặ hit bị các công tình, hạng mục công tinh eda bên mỗi thầu đ thực hiện sói thầu trên cơ sở bảo dim tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế, 1. Mục đích của đấu thâu: Hầu hết rong mỗi chủ tinh của một dự án đầu tư đã của Nhà nước hay tự nhân, chủ đầu tư đều phải thực hiện rất nhiều các công việc khác nhau, từ việc xây dựng, phân tích, thấm định, lựa chọn công nghệ đến việc mua sắm vật tr thiết bị. Những công vi chủ đầu tr hoặc có th tự làm, hoặc có thé thông qua các tổ chức cá nhân đạt các tiêu chuẩn cin thiết về chuyên môn thực hiện.
Trong nén kinh t thị trường,hầu hết các dự án du được thục hiện theo phương án thứ bai, bởi lẽ tinh chuyên môn hóa ngày coi trọng, một tổ chức khó có thể thực hiện hết các công việc của một công ấn, đặc biệt là dự án lớn, co tính phúc tạp cao. Hơn nữa phương thức thứ hai này góp: phần he giá thành và năng cao chất lượng công trình cũng như rit ngắn được thời giam thực hiện dự án ‘Vain để còn lại và quan trọng của chủ đầu tư là làm thé nào để lựa chọn được các tổ chức cá nhân có khả năng thực hiện tốt những công việc trong chu trình của một dự án. Lịch sử phát triển và quản lý các dự án khẳng định, đấu thầu là phương án đem lại hiệu quả nhất thực hiện được mục tiêu này, đảm bảo cho sự thành công của chủ đầu tư. Đầu thầu được xem như một phương pháp quản lý dự án có hiệu quả nhất hiện nay trên cơ sở.
chống độc quyền, tăng cường cạnh tranh giữa các nhà thầu. 1 Sự phát trién về công tác đấu thầu ở Việt Nam trong thai gian qua Trước đây, việc thực hiện đầu tr được thục hiệ theo kế hoạch hàng năm thông qua KẾ hoạch giao nhận thầu và như vậy không có đấu thầu để lựa chọn người thực hiện. Từ những năm 1989-1990, khi nề kinh tế nước ta chuyên đổi sang cơ chế thị trường tì vẫn đề tổ chức đầu thầu là yêu cầu tắt yếu. Trong "Điễu lệ quản lý đầu tư và xây dựng" ban hành kèm theo Nghị định số 385-HĐBT ngày 7/11/1990 của Hội đồng Bộ trưởng, đã xác với các công tình xây dựng cơ bản trong thời kỳ hiện ta.
Để chỉ tết hoá việc ổ chức thực hiện đấu thầu trong xây dựng đối với các dự án đầu tư ngày 12/2/1990, Bộ Xây dụng có Quyết định số 24/BXD-VKT ban hành “Quy chế Đắu thầu tong ly dung” ấp theo, ngày 30/3/1994 Bộ Xây dưng có Quyết định số 60/BXD-VKT ban hành “Quy chế Đắu thầu xây lắp" thay cho “Quy chế Đầu thiu trong xây dựng” nêu trên, Quy chế này được áp dng cho các dự án đầu tw dùng vn trong nước của các tổ chức Nhà nước, song mới chỉ hạn chế trong lĩnh vực xây lip và được thực hiện chủ yu trong ngành xây dựng. Đối với các dự án sử dụng vốn vay của các tổ chức tài trợ quốc tế WB, ADB,. việc đầu thầu được áp dụng theo quy định của nhà tài trợ. Đối với việc nhập khẩu máy móc thiết bị, thực hiện theo Quyết định 91/TTE ngay13/11/1992 của Thủ tướng Chính phủ.
Theo đổ, dự án có nhủ cầu nhập khẩu máy móc thiết bị bằng nguồn vốn [Nha nước phải thực hiện thông qua đầu thằu, song chưa quy dinh cụ thể về trình tự thực hiện đầu thầu Để quản lý đâu thầu các dự ân đầu tư một cách thống nhất, trong đồ bao gồm cả các dự án sử dụng vốn vay nước ngoài, ngày 16/4/1991, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số I83/TTE về việ thành lập Hội đồng xét thẫu quốc gia để tư vấn cho Thủ trớng Chính phù phê duyệt kết quả đầu thầu đối với các dự án có mức vốn từ 100 tỷ đồng trở lên tương đương 10 tru USD. Đối với các dự án còn lại, kết quả đầu do Bộ trưởng Bộ, Chủ tịch UBND tinh và thành phố trực thuộc Trung ương phê duyệt trên cơ sở thẳm, định của Hội đồng xét thầu cấp Bộ hoặc địa phương. Tuy nhiên, trong Quyết định số. 1S3/TTE nêu trên chỉ mới quy định về việc thắm định và phê duyệt kết quả đầu thầu mà không có quy định cụ thé về quy tình đầu thầu, cũng như các lĩnh vực đầu thầu cụ thể như tư van, mua s im hàng hoá, xây lắp "Để quy định chỉ tết đối vớ tắt cả các lĩnh vue về đầu thầu và quản lý công tác đầu thầu một cách thống nhất, năm 1994 Thủ tướng Chính phủ đã giao cho Bộ KE hoạch và đầu tr chủ tì soạn thảo trình Chính phủ ban hành “Quy chế Đầu thả ip dụng cho ác dự án đầu tư.
Qua gần hai năm nghiên cửu với sự trợ giúp của các chuyên gia WB, ADB thông qua Dự án Tăng cường năng lực đầu thầu. Bộ KẾ hoạch và dẫu tw đã hoàn thành ‘Dy thảo Nghị định của Chính phủ về việc ban hành Quy chế Dau thằu. Ngày 16/7/1996, thay mặt Chính phủ. Thủ tưởng Chính phủ đã kỷ Nghị định số 43/CP ban hành Quy chế Đấu thầu thực hiện trên phạm vi toàn quốc.
Nội dung cơ bản của Quy chế Đắu thầu bao gốm những quy định về thủ tục, tình tự tổ chức thực hiện đầu thầu đổi với các lĩnh vục tuyển chọn tư vấn, mua sắm hàng hoá và xây lắp thuộc các dự án đầu tư. Quy chế Đầu thiu ra đời đánh dẫu một bước tiến mới trong công tác quản lý, thỗng nhất quản lý hoạt động dấu thầu trong cả nước ta, bảo đảm tinh đáng din, khách quan, công bằng và có tính cạnh tranh nó tạo ra một hành lang pháp lý cho việc lựa chọn được. sắc nhà thầu để thực hiện các dự án đầu tư, đồng thời sóp phần nâng cao vai tr của chủ đầu tư và tăng cường trách nhiệm của nhà lu. Thục hiện đầu thầu sẽ tạo được sự công bằng và cạnh tranh giữa các nhà thần, hạn ch u cực trong việc lựa chọn đơn vị thực ên và qua đó giảm được chỉ phí đầu tư, mang lại hiệu quả cho dự án.
Qua thực hiện đầu tha chủ đầu tư có điều kiện lựa chon được phương án có hiệu qua trong việc mua i hàng hod, lựa chọn được nhà thầu có đủ kinh nghiệm và nang lực, cổ phương án kỹ thuật, biện pháp thi công tốt dé thực hiện dự án, đám bảo chat lượng của công trình. Các quy định về đầu thầu được xây đựng trên cơ sở tham khảo các quy định theo thông lệ chúng của quốc tế và thực tiễn quả lý của Việt Nam, nên ngay từ ban đầu khi mới ban hành, Quy chế Đắu thầu đã đi vào cuộc sống. Tuy nhiên, đấu thầu là công việc mới trong khi chúng ta mới chuyển sang cơ chế thi trường, cho nên vừa thực hiện vừa phối nghiên cứu, chỉnh sia các quy định về đầu thẫu sao cho sắt với thực hơn. Thực tiễn trong những năm qua cho thấy, cứ bình quân khoảng 2 đến 3 năm, Chính phủ lại ban hành Quy chế sửa đối.
Đó là Nghị định 93/CP ngày 23/8/1997 vẻ sửa đối, bố sung Quy ché Đầu thầu ban hành theo Nghị định 43/CP, tip theo là Nghị định 88/CP ban hành (Quy chế Đắu thầu thay thé Quy chế Đầu thầu đã được ban hành theo Nghị định 43/CP và ND 93/CP. Sau đó Quy chế tấu thầu NB 88/CP lại tp tục được hoàn chỉnh trén cơ sở sửa đổi, bỗ sung một số điều được quy định tại Nghỉ định 14/CP ngày 5/5/2000 và Nghị định 66/CP ngày 12/6/2003, Có thé nói, Quy chế Đầu thầu hiện hành cù Với các văn bản hướng dẫn có liên quan da là cơ sở pháp lý cho việc thực hiện dau thầu đôi với các dự án đầu tư nói chung và các dự án sử dụng vốn Nhà nước nói riêng. Tuy nhiên, tính pháp lý chưa cao, Ngày 29/11/2005, tại kỳ họp thứ 8, khoá XI Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua Luật ấu thầu 61/2005/QHI 1 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/4/2006 được xây dưng dua trên Quy chế Đẫu thầu hiện hành và dự thảo Pháp lệnh đầu thầu gồm 6 chươn Trái đều nhằm ting cường tính công kha, mình bạch. ting cường phân cấp, đơn giản hoá thủ tục, từng bước khắc phục các tồn ti tong thực tiễn.
Luật Đắu thầu là văn bản pháp lý cao nhất, đầy đủ cho hoạt động đấu thầu trong cả nước. Ngày 26/11/2013, Quốc hội Khóa XII đã thông qua Luật đấu thầu số.