Chương 1: Tổng quan về đề tài Nội dung của chương này là trình bày về lý do chọn đề tài, phạm vi nghiên cứu của đề tài, mục tiêu nghiên cứu của đề tài và nội dung của đề tài. - Chương 2: Cơ sở lý thuyết về nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động logistics Nội dung của chương này là trình bày về cơ sở lý thuyết của đề tài, bao gồm các phần: Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh theo quan điểm hiện đại, Lý thuyết về các công cụ phân tích, Đặc điểm ngành logistics tại Việt Nam. - Chương 3: Phân tích năng lực cạnh tranh trong hoạt động logistics của Công ty TNHH MLC - ITL Logistics Nội dung của chương này bao gồm: Giới thiệu về Công ty TNHH MLC - ITL Logistics, Phân tích các yếu tố bên ngoài công ty, Phân tích yếu tố bên trong công ty, Đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH MLC - ITL Logistics. - Chương 4: Giải pháp và kết luận Nội dung của chương này là tổng hợp lại đề tài và đưa ra giải pháp cho Công ty TNHH MLC - ITL Logistics và kết luận.
Chương II: Cơ sở lý thuyết về nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động logistics của một doanh nghiệp 2.1 Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh theo quan điểm hiện đại 2.1 Khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh Trong thời kỳ đầu của nền kinh tế tư bản, các khái niệm về cạnh tranh có ý nghĩa là đối kháng nhau. Nó có nghĩa là cá lớn nuốt cá bé hoặc “thương trường là chiến trường. Tuy nhiên, theo quan điểm hiện đại, nó được hiểu là mang lại lợi ích tốt nhất và gia tăng thêm nhiều giá trị cho khách hàng. Các lợi ích ở đây có thể là chất lượng cao, giá cả cạnh tranh, 3 mạng lưới phân phối rộng lớn, phục vụ tận tình, chính sách thanh toán dễ dàng.
Trong thời buổi hiện tại, sự cạnh tranh là hết sức cần thiết. Sự cạnh tranh đặt các công ty dưới áp lực phải liên tục cung cấp các sản phẩm với giá tốt nhất có thể với chất lượng tốt nhất, bởi vì nếu họ không làm như vậy, người tiêu dùng có thể lựa chọn mua tại nhiều nơi khác. Trong giai đoạn hiện nay, khi các rào cản thương mại đã được giảm đáng kể, sự phát triển nhanh chóng của khoa học – kỹ thuật và nhu cầu của khách hàng đã tăng đạt đến mức cao, sự cạnh tranh trong thị trường của một quốc gia không chỉ là một trận chiến giữa các công ty trong nước mà còn giữa các công ty trong nước với các công ty có vốn đầu tư nước ngoài với nhiều lợi thế cạnh tranh hơn. Để có thể tồn tại và phát triển, đầu tiên mỗi công ty phải đánh giá được năng lực cạnh tranh của chính mình.
Vậy, năng lực cạnh tranh là gì? Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam – 2011, năng lực cạnh tranh của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh là khả năng giành thắng lợi (kể cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ. Còn theo Bách khoa toàn thư mở - 2014, Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sự thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao, bằng việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Ngoài ra, năng lực cạnh tranh còn có thể được hiểu là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh thị trường mới. Mặc dù có sự khác biệt trong việc giải trình, tất cả những định nghĩa trên tập trung vào khả năng và nguồn lực mà một doanh nghiệp sở hữu để giành chiến thắng trong cạnh tranh.
Các doanh nghiệp cần phải biết liệu họ có khả năng và nguồn lực hay không và xác định năng lực cạnh tranh của chính mình. Từ đó, có thể đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. 4 Tất cả những công ty nói chung và công ty hoạt động trong lĩnh vực logistics nói riêng, năng lực cạnh tranh bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài (bao gồm cả các yếu tố vĩ mô và các yếu tố vi mô) và các yếu tố bên trong. Các yếu tố bên ngoài có thể tạo ra các cơ hội (Opportunities) và các mối đe dọa (Threats) trong khi các yếu tố bên trong là yếu tố quyết định để tăng cường khả năng cạnh tranh.
Hiện tai, có rất nhiều mô hình và các công cụ được sử dụng rộng rãi để đánh giá các yếu tố này. Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian, kinh nghiệm thực tế và các điều kiện của Việt Nam, nên trong phạm vi của đề tài chỉ sử dụng các công cụ phân tích sau: Phân tích PEST, Mô hình cạnh tranh của Michael Porter, Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài - EFE và Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong – IFE và ma trận hình ảnh cạnh tranh.2 Mô hình cạnh tranh của Michael Porter Michael Porter, nhà hoạch định chiến lược và cạnh tranh hàng đầu thế giới hiện nay, đã cung ứng một khung lý thuyết để phân tích. Trong đó, ông mô hình hóa các ngành kinh doanh và cho rằng ngành kinh doanh nào cũng phải chịu tác động của năm lực lượng cạnh tranh. Các nhà chiến lược đang tìm kiếm ưu thế nổi trội hơn các đối thủ có thể sử dụng mô hình này nhằm hiểu rõ hơn bối cảnh của ngành kinh doanh mình đang hoạt động.
Mô hình Porter’s Five Forces được xuất bản lần đầu trên tạp chí Harvard Business Review năm 1979 với nội dung tìm hiểu yếu tố tạo ra lợi nhuận trong kinh doanh. Mô hình này, thường được gọi là “Năm áp lực cạnh tranh của Porter”, được xem là công cụ hữu dụng và hiệu quả để tìm hiểu nguồn gốc lợi nhuận. Quan trọng hơn cả, mô hình này cung ứng các chiến lược cạnh tranh để doanh nghiệp duy trì hay tăng lợi nhuận. Các doanh nghiệp thường sử dụng mô hình này để phân tích xem họ có nên gia nhập một thị trường nào đó, hoặc hoạt động trong một thị trường nào đó không.
Tuy nhiên, vì môi trường kinh doanh ngày nay mang tính “động”, nên mô hình này còn được áp dụng để tìm kiếm trong một ngành nhất định các khu vực cần được cải thiện để sản sinh nhiều lợi nhuận hơn. 5 Theo Michael Porter, có năm áp lực xác định sức cạnh tranh. Năm áp lực này bao gồm: Nguy cơ của các đối thủ tiềm năng (người mới nhập cuộc), Nguy cơ của sản phẩm, dịch vụ thay thế, Quyền thương lượng của nhà cung ứng, Quyền thương lượng của người mua và Sự cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại. [Xem thêm Phụ lục 1: Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter] - Nguy cơ của các đối thủ tiềm năng (người mới nhập cuộc) Sự hấp dẫn của thị trường, khả năng và nguồn lực của các đối thủ tiềm năng, yêu cầu về vốn cao và sự hạn chế trong các các chính sách của chính phủ là những yếu tố chính cần phải được xem xét trong việc đánh giá xem các nguy cơ của người mới nhập cuộc là mạnh hay yếu trong bất kỳ ngành công nghiệp nào, bao gồm cả ngành công nghiệp logistics.
Đề tài này tập trung phân tích ba yếu tố: đó là sự hấp dẫn của thị trường, rào cản gia nhập và khả năng, nguồn lực của người đối thủ tiềm năng. Nếu sự hấp dẫn của thị trường và khả năng, nguồn lực của các đối thủ tiềm năng cao và các rào cản gia nhập có thể vượt qua dễ dàng thì động lực nhập cuộc của những đối thủ tiềm năng sẽ cao hơn. Điều này dẫn đến nguy cơ của các đối thủ tiềm năng cao hơn. - Nguy cơ của sản phẩm, dịch vụ thay thế Đây là khả năng người mua tìm kiếm sản phẩm khác thay thế sản phẩm của công ty.
Áp lực cạnh tranh liên quan đến các nguy cơ của sản phẩm thay thế bao gồm các yếu tố: sự sẵn có và dễ dàng tiếp cận của sản phẩm thay thế, giá cả hấp dẫn, hiệu suất tương đương hoặc tốt hơn của sản phẩm thay thế. Trong phạm vi của đề tài này, sự sẵn có và dễ dàng tiếp cận của sản phẩm thay thế được ưu tiên khi phân tích sâu do nó tiềm ẩn các nguy cơ lớn từ các công ty logistics hiện nay. - Quyền thương lượng của nhà cung ứng Nguy cơ này từ nhà cung ứng thể hiện qua mức độ nhà cung ứng dễ dàng đẩy giá lên cao. Điều này xuất phát từ các yếu tố sau: số lượng các nhà cung ứng, tính độc đáo của sản phẩm, sự khác biệt sản phẩm, chất lượng sản phẩm,….
Trong lĩnh vực logistics, hai 6 yếu tố quyết định khả năng thương lượng của nhà cung ứng là số lượng các nhà cung ứng và chất lượng của sản phẩm. + Số lượng các nhà cung ứng: Theo quy luật cung cầu, nhà cung ứng có sức mạnh thương lượng hơn khi số lượng các nhà cung ứng ít trong thị trường và nguồn cung ứng chủ yếu là từ họ. + Chất lượng sản phẩm: sản phẩm nào có chất lượng cao hơn thì nhà cung ứng sản phẩm đó có sức mạnh thương lượng hơn. - Quyền thương lượng của người mua Yếu tố này cho biết sức mạnh của người mua là như thế nào khi họ quyết định lựa chọn mua sản phẩm.
Sức mạnh của người mua được điều tiết bởi bởi số lượng người mua, chi phí mua hàng khi đổi sang sản phẩm đang cạnh tranh, độ nhạy cảm về giá của người mua,. Trong lĩnh vực logistics, hai yếu tố chính - Giá cả và chất lượng của sản phẩm và sự khác biệt của sản phẩm đóng vai trò lớn nhất ảnh hưởng đến áp lực cạnh tranh xuất phát từ quyền thương lượng của người mua + Giá cả và chất lượng của sản phẩm: Người mua có quyền lực hơn khi giá của sản phẩm là quá đắt so với chất lượng và chất lượng sản phẩm quá nghèo nàn. + Sự khác biệt cùa sản phẩm: Càng nhiều dịch vụ được tích hợp trong một gói dịch vụ mà công ty logistics cung cấp thì càng có nhiều người mua hơn do tiết giảm nhiều chi phí.