Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. 7 Chương 2: Thực trạng về năng lực cạnh tranh của Nhà in Thông tấn xã Việt Nam – Công ty TNHH MTV ITAXA. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Nhà in Thông tấn xã Việt Nam – Công ty TNHH MTV ITAXA. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 1. Cạnh tranh Đặc trưng của nền kinh tế thị trường là sự cạnh tranh diễn ra khốc liệt, từng giây phút. Cạnh tranh tồn tại cùng với sự tồn tại của kinh tế thị trường ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có cạnh tranh.
Cạnh tranh trở thành động lực phát triển của sản xuất xã hội. Vậy cạnh tranh là gì? Cạnh tranh là một khái niệm rộng, tồn tại trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội chứ không chỉ riêng ở trong kinh doanh. Có nhiều khái niệm về cạnh tranh, có thể dẫn ra một số khái niệm của các nhà kinh tế học, nhà nghiên cứu như sau: Theo Marx: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà đầu tư nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi nhất trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch” Theo từ điển kinh doanh xuất bản năm 1993 ở Anh thì “Cạnh tranh trong cơ chế thị trường là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại về phía mình…” Hai nhà kinh tế học Mỹ P.Nordhaus trong cuốn Kinh tế học (xuất bản lần thứ 12) cho rằng “Cạnh tranh (Competition) là sự kình địch giữa các DN cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường”. Họ còn đồng nhất cạnh tranh với cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition).L Rubinfeld trong cuốn kinh tế học vi mô cho rằng: “Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị trường có nhiều người mua và người bán và không một cá nhân người mua hoặc người bán nào có ảnh hưởng đáng kể tới giá cả” Michael E.
Porter, chuyên gia marketing hàng đầu thế giới lại cho rằng cạnh tranh (kinh tế) là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, nhà phân phối, 9 người tiêu dùng,) nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế, thương mại khác để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Trong báo cáo về cạnh tranh toàn cầu năm 2003 tại diễn đàn Liên hợp quốc cạnh tranh đối với một quốc gia được cho rằng là "Khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng các thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội GDP) tính trên đầu người theo thời gian”. Học giả Bryan A. Garner thì cho rằng “Cạnh tranh là sự nỗ lực hoặc hành vi của hai hay nhiều thương nhân nhằm tranh giành những lợi ích giống nhau từ chủ thể thứ ba”.
Từ các khái niệm, quan điểm trên, có thể tổng kết lại rằng “Cạnh tranh là một quá trình tranh đấu mà trong đó, các chủ thể kinh tế ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp để đạt được mục đích chủ yếu của mình như: chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng, cũng như đảm bảo tiêu thụ có lợi nhất, nhằm nâng cao vị thế của mình trên thương trường”. Năng lực cạnh tranh Trong quá trình các chủ thể cạnh tranh với nhau, để giành lợi thế về phía mình, các chủ thể áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp nhằm duy trì và phát triển vị thế của mình trên thị trường. Các biện pháp này thể hiện một sức mạnh nào đó, một khả năng nào đó hoặc một năng lực nào đó của chủ thể, được gọi là năng lực cạnh tranh. Bên cạnh khái niệm năng lực cạnh tranh, người ta còn sử dụng các khái niệm như “sức cạnh tranh”, “tính cạnh tranh” hoặc “khả năng cạnh tranh”.
Mặc dù các thuật ngữ này có thể mang nhiều sắc thái khác nhau và không đồng nhất trong các trường hợp cụ thể nào đó, nhưng các thuật ngữ đó đều được dịch thống nhất từ 1 từ tiếng Anh đó là “competitiveness”. Cho đến nay, thực tế vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh, có thể dẫn ra một số quan điểm cụ thể như sau: Khái niệm năng lực cạnh tranh được đề cập đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm 1980. Theo Aldington Report (1985): “DN có khả năng cạnh tranh là DN có thể sản 10 xuất sản phẩm và dịch vụ vớichất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế. Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ DN”.
Năm 1994, định nghĩa này được nhắc lại trong “Sách trắng về năng lực cạnh tranh của Vương quốc Anh” (1994). Năm 1998, Bộ thương mại và Công nghiệp Anh đưa ra định nghĩa “Đối với doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và vào đúng thời điểm. Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác”. Theo Buckley (1988), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần được gắn kết với việc thực hiện mục tiêu của DN với 3 yếu tố: các giá trị chủ yếu của doanh nghiệp, mục đích chính của DN và các mục tiêu giúp các doanh nghiệp thực hiện chức năng của mình.
Bày tỏ quan điểm của mình, trong công trình nghiên cứu Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thời hội nhập, tác giả Lê Đăng Doanh cho rằng “năng lực cạnh tranh của DN được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận cho doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước” Theo Hội đồng sức cạnh tranh của Mỹ, “sức cạnh tranh là năng lực kinh tế về hàng hóa và dịch vụ của một nền sản xuất có thể vượt qua thử thách trên thị trường thế giới, trong khi mức sống của dân chúng có thể nâng cao một cách vững chắc và lâu dài” [1]. Trong thuật ngữ chính sách thương mại, sức cạnh tranh được cho là “năng lực của một doanh nghiệp hoặc của một ngành, một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác, quốc gia khác đánh bại về năng lực kinh tế”. Ở Việt Nam, theo ý kiến của một số chuyên gia, năng lực cạnh tranh là khả năng giành được thị phần lớn hơn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành một phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp. Theo Từ điển thuật ngữ kinh tế học (xuất bản năm 2000, NXB Từ điển Bách khoa Hà Nội), “Năng lực cạnh tranh (còn gọi là sức cạnh tranh) là khả năng giành [1] Trần sửu (2003): Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện toàn cầu hóa, NXB Lao động, Hà Nội 11 được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toần bộ thị phần của đồng nghiệp”.
Mặc dù vẫn còn nhiều sự khác nhau giữa cách hiểu, cách kiến giải về năng lực cạnh tranh, song hàm nghĩa cơ bản của các ý kiến, định nghĩa là như nhau khi cho rằng năng lực cạnh tranh không phải là chỉ tiêu đơn nhất mà mang tính tổng hợp, gồm nhiều chỉ tiêu cấu thành và có thể xác định được từng doanh nghiệp cụ thể hoặc cho từng ngành hoặc thậm chí là cho cả một quốc gia. Trong phạm vi của luận văn này, tôi sử dụng thống nhất thuật ngữ đó là “năng lực cạnh tranh” và sử dụng định nghĩa về năng lực cạnh tranh của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) được nêu tại Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp như sau: “Năng lực cạnh tranh là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao, trên cơ sở sử dụng yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp, các ngành, các địa phương, các quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. Các cấp độ của năng lực cạnh tranh Như đã nói ở trên, do năng lực cạnh tranh có các góc độ tiếp cận khác nhau, dẫn đến sự phân chia năng lực cạnh tranh cũng rất đa dạng. Theo cách phân chia phổ biến đang được thừa nhận rộng rãi hiện nay, năng lực cạnh tranh bao gồm các cấp độ sau đây: - Năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia - Năng lực cạnh tranh cấp độ doanh nghiệp - Năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ Ngoài ba cấp độ nói trên, các nhà nghiên cứu cũng đề cập đến năng lực cạnh tranh cấp ngành.
Trên thực tế, qua nghiên cứu, tìm hiểu, học viên cho rằng, năng lực cạnh tranh cấp ngành có mối quan hệ mật thiết, chịu sự ràng buộc chặt chẽ từ năng lực cạnh tranh cấp quốc gia và năng lực cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp vì vậy không liệt kê thành 1 cấp độ ở trên đây. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ là khả năng của sản phẩm, dịch vụ đó tiêu thụ được nhanh trong khi có nhiêu người cùng bán sản phẩm, dịch vụ đó trên thị trường. Nói cách khác, năng lực cạnh tranh của sản phẩm hay dịch vụ được 12 đo bằng thị phần của sản phẩm đó. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm phụ thuộc vào chất lượng, giá cả, tốc độ cung cấp, dịch vụ đi kèm, uy tín người bán, thương hiệu, quảng cáo, điều kiện mua bán và nhiều yếu tố khác.
Đối với doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh là thực lực, là lợi thế mà doanh nghiệp có thể huy động và duy trì, cải thiện vị trí của mình so với các đối thủ cạnh tranh (trực tiếp và gián tiếp) trên thị trường một cách lâu dài, có ý chí nhằm thu được lợi ích ngày càng cao cho doanh nghiệp của mình.