Tổng quan nghiên cứu

Sản xuất chè là ngành kinh tế nông nghiệp mũi nhọn tại tỉnh Sơn La, tạo sinh kế và việc làm ổn định cho hàng vạn hộ nông dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Theo số liệu thống kê của địa phương, toàn tỉnh có tổng diện tích chè đạt 3.797 ha, trong đó diện tích chè kinh doanh chiếm 3.343 ha (tương đương 80%) và diện tích chè kiến thiết cơ bản là 454 ha (chiếm 20%). Sản lượng hàng năm đạt 26.600 tấn chè búp tươi với năng suất bình quân 70 tạ/ha. Tuy nhiên, năng suất này vẫn còn khoảng cách đáng kể khi so sánh với các vùng chè trọng điểm khác như Phú Thọ đạt 84 tạ/ha hay Thái Nguyên đạt 109 tạ/ha.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực trạng phát triển tự phát của mạng lưới chế biến. Toàn tỉnh hiện có 16 doanh nghiệp, hợp tác xã và cơ sở chế biến chè với tổng công suất thiết kế khoảng 160 tấn búp tươi/ngày, tập trung chủ yếu tại huyện Mộc Châu với 13 đơn vị, huyện Mai Sơn với 2 đơn vị và huyện Phù Yên có 1 đơn vị. Sự xuất hiện của hàng loạt lò sấy mini tự chế không có vùng nguyên liệu đã gây ra tình trạng tranh mua nguyên liệu gay gắt, làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng chè búp tươi đầu vào. Kết quả kiểm tra an toàn thực phẩm cho thấy chỉ có 35% cơ sở đạt tiêu chuẩn loại A, 30% loại B, 15% loại C và có tới 20% cơ sở không đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm.

Trước bối cảnh đó, đề tài được thực hiện nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng triển khai quy hoạch vùng chè an toàn đến năm 2020 với quy mô mở rộng lên 10.000 ha (diện tích chè an toàn đạt 9.734,3 ha, sản lượng mục tiêu 73.022 tấn), đồng thời phân tích các nhân tố tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của 16 doanh nghiệp chế biến trên địa bàn. Nghiên cứu được triển khai trong phạm vi không gian toàn tỉnh Sơn La, tập trung phân tích dữ liệu thực nghiệm giai đoạn 2012 - 2015 và định hướng đến năm 2020, cung cấp căn cứ khoa học vững chắc phục vụ việc điều chỉnh chính sách quản trị ngành nông nghiệp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của hai nền tảng lý thuyết quản trị và kinh tế học nông nghiệp: lý thuyết quy hoạch phát triển kinh tế ngành - vùng lãnh thổ và lý thuyết quản trị chuỗi cung ứng nông sản. Quy hoạch phát triển được tiếp cận như một bản luận chứng khoa học dài hạn (chu kỳ 10 đến 20 năm) nhằm phân bổ và tối ưu hóa các nguồn lực đất đai, nguồn vốn và công nghệ chế biến. Mô hình chuỗi giá trị nông nghiệp nhấn mạnh mối quan hệ tương hỗ giữa ba mắt xích then chốt: sản xuất nguyên liệu, công nghệ chế biến công nghiệp và thị trường tiêu thụ sản phẩm.

Các khái niệm trọng tâm được vận dụng xuyên suốt gồm: quy hoạch vùng nguyên liệu tập trung, năng lực chế biến công nghiệp, chuỗi liên kết giá trị và tiêu chuẩn an toàn thực phẩm theo quy trình VietGAP và hệ thống HACCP. Trong bức tranh tổng thể của cả nước với 125.000 ha chè và 450 nhà máy chế biến, việc chỉ có 10% doanh nghiệp sở hữu vùng nguyên liệu riêng đã gây thất thoát ước tính khoảng 530 tỷ đồng mỗi năm do đầu tư dư thừa công suất.

Nghiên cứu cũng kế thừa bài học kinh nghiệm quốc tế sâu sắc từ Trung Quốc và Malaysia. Trung Quốc đã thành công vượt bậc khi kiên trì thực hiện phương châm "một ổn định, ba nâng cao", xây dựng hơn 1.200 danh trà, giúp nhóm chè chất lượng cao dù chỉ chiếm 40% sản lượng nhưng mang lại 70% tổng giá trị toàn ngành. Trong khi đó, Malaysia thông qua Hiệp hội Thương mại trà thành lập từ năm 1955 với mạng lưới hơn 100 thành viên đã hỗ trợ tài chính, chuẩn hóa bao bì thương hiệu và quảng bá văn hóa tiêu dùng chè bền vững.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu toàn bộ (census sampling) đối với toàn bộ 16 doanh nghiệp và hợp tác xã chế biến chè đang hoạt động chính thức trên địa bàn tỉnh Sơn La theo danh sách phân vùng quản lý nguyên liệu tại Quyết định số 2389/QĐ-UBND. Cỡ mẫu 16 doanh nghiệp bao gồm 13 đơn vị tại huyện Mộc Châu, 2 đơn vị tại huyện Mai Sơn và 1 đơn vị tại huyện Phù Yên. Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp kết hợp phỏng vấn trực tiếp lãnh đạo doanh nghiệp bằng bảng hỏi cấu trúc, kết hợp phỏng vấn sâu chuyên gia quản lý quy hoạch tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và quan sát thực địa dây chuyền công nghệ.

Dữ liệu thứ cấp được kế thừa từ hệ thống Niên giám thống kê tỉnh Sơn La giai đoạn 2012 - 2015, báo cáo quy hoạch đất đai của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La (phản ánh hiện trạng 543.043,67 ha đất chưa sử dụng, chiếm 38,45% diện tích tự nhiên) cùng các văn bản chính sách như Quyết định số 3338/QĐ-UBND và Quyết định số 1959/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Phương pháp phân tích số liệu chủ đạo là thống kê mô tả và thống kê so sánh (kết hợp so sánh số tuyệt đối và số tương đối) thông qua công cụ Excel. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này nhằm định lượng hóa rõ nét sự thay đổi của các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh, tỷ lệ an toàn vốn tự có, mức độ trang bị máy móc và năng suất lao động của doanh nghiệp giữa hai mốc thời gian trước và sau khi triển khai quy hoạch vùng chè an toàn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, công tác quy hoạch đã tạo ra bước đột phá về quy mô vùng nguyên liệu chè an toàn. Toàn vùng sản xuất chè của tỉnh ghi nhận diện tích hiện trạng là 4.136,3 ha và được định hướng mở rộng lên 10.000 ha vào năm 2020 (tăng thêm 5.863,7 ha). Trong đó, huyện Mộc Châu tiếp tục giữ vị trí trung tâm với quy hoạch 5.300 ha, dự kiến cung cấp sản lượng chè an toàn lên tới 41.211,2 tấn; huyện Mai Sơn quy hoạch 1.300 ha với sản lượng 8.840 tấn; huyện Thuận Châu đạt 1.100 ha với sản lượng 8.244,6 tấn; huyện Phù Yên và Yên Châu đều đạt 1.000 ha với sản lượng lần lượt là 6.609,4 tấn và 6.800 tấn; huyện Bắc Yên đạt 300 ha với sản lượng 1.316,8 tấn. Năng suất chè an toàn tại các vùng tập trung được cải thiện rõ rệt, đạt từ 7,5 đến 8,0 tấn/ha.

Thứ hai, hiệu quả tài chính và năng lực tự chủ vốn của các doanh nghiệp chế biến tăng trưởng ấn tượng sau khi được phân định vùng nguyên liệu rõ ràng. Điển hình như Công ty TNHH MTV Nông nghiệp Tô Hiệu, trước quy hoạch chịu mức lỗ 24 triệu đồng nhưng sau quy hoạch đã đạt lợi nhuận trước thuế 109 triệu đồng. Các đơn vị khác từng thua lỗ như Công ty Cổ phần Chè Chiềng Ve, Doanh nghiệp tư nhân Châu Tứ, Công ty TNHH Ligarden Việt Nam đều đã cắt lỗ thành công và chuyển sang có lãi ổn định. Đồng thời, áp lực phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng giảm xuống đáng kể: nguồn vốn đi vay của Công ty Lâm nghiệp Phù Yên giảm còn 89,15%, Hợp tác xã Tân Lập Mộc Châu giảm còn 94,71%, và Công ty TNHH Hưng Hán giảm còn 94,28% so với giai đoạn trước quy hoạch.

Thứ ba, quy hoạch thúc đẩy làn sóng hiện đại hóa cơ sở vật chất và công nghệ chế biến. Đã có 8 doanh nghiệp quy mô lớn mạnh dạn đầu tư nâng cấp lên tới 4 dây chuyền sản xuất đồng bộ, khép kín từ nguyên liệu đến thành phẩm, tiêu biểu như Chi nhánh Tổng công ty Chè Việt Nam - Vinatea Mộc Châu, Công ty Cổ phần Chè Chiềng Ve, Tsujiguchi Farm, Công ty TNHH Đại Lộc Mộc Châu và Doanh nghiệp tư nhân Mộc Sương.

Thảo luận kết quả

Khi xem xét bức tranh tổng thể, các dữ liệu tài chính và năng lực thiết bị có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột kép so sánh doanh thu - lợi nhuận trước và sau quy hoạch của 16 doanh nghiệp, kết hợp bảng thống kê phân bổ tỷ trọng diện tích chè của 6 huyện trọng điểm để thấy rõ vai trò đầu tàu của Mộc Châu khi chiếm 53% diện tích quy hoạch toàn tỉnh. Cơ cấu xếp loại chất lượng chế biến với 35% loại A và 20% chưa đạt chuẩn cũng có thể được mô tả bằng biểu đồ tròn nhằm làm nổi bật khoảng cách cần khắc phục.

Nguyên nhân cốt lõi giúp các doanh nghiệp cải thiện hiệu quả bắt nguồn từ việc xác lập quyền quản lý vùng nguyên liệu theo địa bàn hành chính, giúp các đơn vị chủ động ký kết hợp đồng đầu tư phân bón, hướng dẫn kỹ thuật VietGAP và bao tiêu sản phẩm cho nông dân. Khi chất lượng búp tươi đồng đều, tỷ lệ hao hụt nguyên liệu cuống già giảm xuống, tỷ lệ chè thương phẩm loại 1 tăng lên, từ đó gia tăng biên lợi nhuận.

Mặc dù vậy, nghiên cứu cũng chỉ ra những hạn chế nghiêm trọng: giá chè xuất khẩu của Việt Nam nói chung và Sơn La nói riêng hiện chỉ đạt khoảng 60% đến 70% mức giá trung bình của 10 quốc gia xuất khẩu chè lớn nhất thế giới do chủ yếu xuất khẩu thô. Tại Sơn La, hiện tượng tranh mua nguyên liệu vẫn âm ỉ diễn ra phức tạp do sự tồn tại của 24 lò sao chè mini tự chế tại các khu vực Nà Sản (11 lò), Bình Minh (5 lò), Thống Nhất (8 lò) với công suất 300 - 500 kg/ngày. Doanh nghiệp lớn như Công ty Dịch vụ phát triển chè Sơn La có thời điểm chỉ thu mua được khoảng 1/3 sản lượng thực tế của vùng nguyên liệu được giao, đòi hỏi sự can thiệp quyết liệt hơn từ bộ máy quản lý nhà nước.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, rà soát và siết chặt công tác quản lý cấp phép cơ sở chế biến gắn với vùng nguyên liệu. Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần kiên quyết đình chỉ hoạt động, thu hồi giấy phép đối với các lò sao chè thủ công, mini tự chế không có vùng nguyên liệu và không đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm. Mục tiêu hành động là giảm tỷ lệ cơ sở chế biến không đạt chuẩn từ 20% xuống 0% trong giai đoạn 2016 - 2018, bảo đảm 100% doanh nghiệp hoạt động phải có vùng nguyên liệu tối thiểu đáp ứng 80% công suất thiết kế.

Thứ hai, tập trung giải ngân và thực thi hiệu quả các dự án đầu tư hạ tầng kỹ thuật vùng chè an toàn. Sở Kế hoạch và Đầu tư cùng Sở Tài chính phối hợp triển khai đồng bộ gói ngân sách 831,5 tỷ đồng đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông nội đồng và thủy lợi kiên cố tại các vùng chè tập trung; giải ngân gói 1.125 tỷ đồng hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ chế biến hiện đại. Lộ trình thực hiện từ năm 2016 đến năm 2020 nhằm bảo đảm 100% diện tích chè chuyên canh có hệ thống tưới tiêu chủ động và sử dụng điện lưới quốc gia.

Thứ ba, chuẩn hóa quy trình canh tác an toàn sinh học và mở rộng diện tích VietGAP. Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh và các doanh nghiệp chế biến cần nhân rộng mô hình tổ dịch vụ bảo vệ thực vật tập trung, giám sát nghiêm ngặt việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học. Chỉ tiêu đặt ra là chuyển đổi toàn bộ 9.734,3 ha chè quy hoạch sang tiêu chuẩn an toàn VietGAP trước năm 2020, nâng năng suất bình quân toàn tỉnh đạt từ 7,5 đến 8,0 tấn/ha.

Thứ tư, xây dựng thương hiệu chè Sơn La và xúc tiến thương mại quốc tế. Hiệp hội Chè tỉnh Sơn La phối hợp với các doanh nghiệp đầu ngành như Vinatea Mộc Châu, Chè Chiềng Ve triển khai hiệu quả dự án phát triển thương hiệu trị giá 20 tỷ đồng (trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ 12,7 tỷ đồng, vốn huy động xã hội hóa 7,3 tỷ đồng). Học tập kinh nghiệm Malaysia và Trung Quốc, các doanh nghiệp cần chuyển dịch cơ cấu sản phẩm sang các dòng chè cao cấp như chè Ô Long, chè Shan tuyết cổ thụ Tà Xùa, đóng gói bao bì đạt chuẩn quốc tế để nâng giá bán bình quân tăng từ 25% đến 30% trong giai đoạn 2017 - 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là ban lãnh đạo và chuyên viên quản trị chiến lược tại các doanh nghiệp, hợp tác xã chế biến nông sản: Luận văn cung cấp mô hình thực tiễn về tối ưu hóa cơ cấu vốn kinh doanh (giảm tỷ lệ nợ vay xuống dưới mức 95% so với trước quy hoạch), bài học kinh nghiệm đầu tư đồng bộ 4 dây chuyền công nghệ khép kín và phương thức xây dựng hợp đồng liên kết bao tiêu nguyên liệu bền vững với nông dân.

Nhóm thứ hai là các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công Thương, Ban quản lý quy hoạch cấp tỉnh và huyện: Công trình là tài liệu tham khảo giá trị trong việc xây dựng cơ chế quản lý phân vùng nguyên liệu, xây dựng tiêu chí thẩm định cấp phép nhà máy chế biến và phân bổ nguồn lực đầu tư công trị giá hàng nghìn tỷ đồng cho hạ tầng nông nghiệp.

Nhóm thứ ba là ban quản trị các hợp tác xã và hộ nông dân trồng chè tại khu vực Tây Bắc: Tài liệu giúp người sản xuất nắm bắt định hướng chuyển đổi 5.863,7 ha đất canh tác sang mô hình chè an toàn VietGAP, hiểu rõ yêu cầu kỹ thuật thu hái búp tươi để bán được giá cao và ổn định đầu ra với các nhà máy chế biến lớn.

Nhóm thứ tư là giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Đề tài mang lại khung phân tích thực chứng chuẩn mực, hệ thống dữ liệu chi tiết về 16 doanh nghiệp chè và phương pháp kết hợp thống kê mô tả, so sánh định lượng phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu học thuật chuyên sâu.

Câu hỏi thường gặp

Mục tiêu cụ thể của quy hoạch vùng sản xuất chè an toàn tỉnh Sơn La đến năm 2020 là gì? Quy hoạch xác định nâng tổng diện tích chè toàn tỉnh lên 10.000 ha, trong đó diện tích chè an toàn đạt 9.734,3 ha, năng suất bình quân 7,5 tấn/ha và sản lượng đạt 73.022 tấn. Vùng nguyên liệu tập trung tại 6 huyện trọng điểm gồm Mộc Châu (5.300 ha), Mai Sơn (1.300 ha), Thuận Châu (1.100 ha), Yên Châu (1.000 ha), Phù Yên (1.000 ha) và Bắc Yên (300 ha).

Quy hoạch chè đã tác động cụ thể ra sao đến kết quả tài chính của các doanh nghiệp chế biến? Quy hoạch giúp phần lớn doanh nghiệp phục hồi sản xuất và tăng trưởng lợi nhuận. Điển hình là Công ty Nông nghiệp Tô Hiệu từ lỗ 24 triệu đồng đã đạt lợi nhuận trước thuế 109 triệu đồng. Các đơn vị như Chè Chiềng Ve, Ligarden Việt Nam đều xóa sạch lỗ lũy kế, đồng thời tỷ lệ phụ thuộc vốn vay giảm xuống, như Lâm nghiệp Phù Yên vốn vay chỉ còn 89,15% so với trước quy hoạch.

Thách thức lớn nhất trong việc kiểm soát nguyên liệu của các nhà máy chế biến tại Sơn La là gì? Thách thức nổi cộm là tình trạng tranh mua nguyên liệu từ các lò sấy chè mini tự chế trái phép. Điển hình tại vùng nguyên liệu Tô Hiệu có 24 lò mini công suất 300 - 500 kg/ngày. Tình trạng này khiến nhiều doanh nghiệp lớn như Công ty Dịch vụ phát triển chè chỉ thu mua được khoảng 1/3 sản lượng búp tươi của địa bàn quản lý.

Thực trạng phân loại chất lượng của 16 cơ sở chế biến chè tại Sơn La hiện nay như thế nào? Theo số liệu kiểm tra chất lượng của cơ quan chức năng, trong tổng số 16 doanh nghiệp và cơ sở chế biến chè toàn tỉnh với công suất 160 tấn búp tươi/ngày, hiện chỉ có 35% cơ sở đạt tiêu chuẩn loại A, 30% loại B, 15% loại C và có tới 20% cơ sở chưa đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm.

Ngành chè Sơn La có thể áp dụng bài học kinh nghiệm quốc tế nào để nâng cao giá trị gia tăng? Sơn La có thể vận dụng phương châm "một ổn định, ba nâng cao" của Trung Quốc để tập trung vào chất lượng thay vì chỉ mở rộng diện tích, phát triển các dòng sản phẩm đặc sản có giá trị cao gấp 2 lần chè thông thường. Đồng thời, học tập mô hình Hiệp hội Trà Malaysia trong việc chuẩn hóa bao bì, hỗ trợ tín dụng và quảng bá văn hóa chè quốc tế.

Kết luận

  • Quy hoạch vùng chè an toàn 10.000 ha đến năm 2020 là quyết sách chiến lược đúng đắn, giúp nâng cao năng suất búp tươi từ 7,0 tấn/ha lên 7,5 - 8,0 tấn/ha và sản lượng đạt 73.022 tấn tại Sơn La.
  • Chính sách phân vùng nguyên liệu tạo nền tảng giúp 16 doanh nghiệp chế biến phục hồi kinh doanh, tiêu biểu là việc Công ty Tô Hiệu chuyển từ lỗ 24 triệu đồng sang lãi 109 triệu đồng và giảm tỷ lệ nợ vay xuống dưới 95%.
  • Quy hoạch thúc đẩy 8 doanh nghiệp lớn mạnh dạn đầu tư tới 4 dây chuyền chế biến khép kín, nâng tỷ lệ cơ sở chế biến đạt chuẩn loại A và B lên 65%.
  • Nút thắt lớn nhất cần tháo gỡ triệt để là tình trạng 24 lò sao mini tự chế tranh chấp nguyên liệu và 20% cơ sở chế biến chưa đạt chuẩn an toàn thực phẩm.
  • Giải pháp trọng tâm giai đoạn 2016 - 2020 là giải ngân hiệu quả 1.956,5 tỷ đồng vốn đầu tư hạ tầng, công nghệ chế biến và 20 tỷ đồng phát triển thương hiệu chè Sơn La.

Luận văn đã đóng góp hệ thống luận cứ khoa học thực chứng và giải pháp quản trị toàn diện cho ngành chè địa phương. Các nhà quản lý, doanh nghiệp chế biến và hợp tác xã hãy chủ động áp dụng ngay những kiến giải này để tái cơ cấu chuỗi giá trị chè Sơn La theo hướng hiện đại, an toàn và bền vững.