Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở và nâng cao mức hưởng thụ văn hóa tinh thần cho nhân dân nông thôn là một trong những chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (năm 1996) đã nhấn mạnh yêu cầu "công tác văn hóa phải được xã hội hóa". Tiếp đó, Nghị quyết Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IX khẳng định mục tiêu nhanh chóng rút ngắn khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa nông thôn và thành thị, đưa các hoạt động văn hóa - thông tin về cơ sở. Các phong trào quần chúng như "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" và "Xây dựng gia đình văn hóa" đã tạo tiền đề quan trọng cho việc củng cố thiết chế văn hóa nông thôn.

Sau khi mở rộng địa giới hành chính, thành phố Hà Nội có 29 đơn vị hành chính cấp huyện (gồm 10 quận, 18 huyện, 1 thị xã) và 580 đơn vị hành chính cấp xã (404 xã, 154 phường, 22 thị trấn) với diện tích 334.470,02 ha. Dân cư khu vực nông thôn chiếm 58,1% (khoảng 3.750.000 người), trong khi dân cư thành thị chiếm 41,1% (khoảng 2.087.000 người). Mật độ dân số có sự phân hóa rõ rệt, từ 35.341 người/km² ở quận nội thành Đống Đa đến dưới 1.000 người/km² ở các huyện ngoại thành như Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức. Mặc dù kinh tế Thủ đô giai đoạn 2007–2009 duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân GDP 9,92%, sự chênh lệch về mức sống, điều kiện chăm sóc y tế, giáo dục và mức độ tiếp cận thông tin - văn hóa giữa nội thành và ngoại thành vẫn còn khoảng cách lớn.

Tính đến năm 2010, toàn địa bàn Hà Nội có 740 thư viện thôn làng và tủ sách cơ sở. Tuy nhiên, hoạt động của mô hình này bộc lộ nhiều khó khăn về nguồn kinh phí bổ sung sách báo, cơ sở vật chất, trang thiết bị và chế độ đãi ngộ cho cán bộ phụ trách. Khóa luận "Nghiên cứu các giải pháp nâng cao hoạt động của các thư viện thôn làng ngoại thành Hà Nội" của tác giả Nguyễn Thị Thu được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu thực tiễn đó.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là tìm hiểu toàn diện hoạt động của các thư viện thôn, làng ngoại thành Hà Nội, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu thông tin của người dân địa phương.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 3 nội dung chính:

  1. Nghiên cứu đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin tại một số thư viện thôn, làng ngoại thành Hà Nội.
  2. Khảo sát, phân tích thực trạng hoạt động nghiệp vụ và dịch vụ của một số thư viện thôn, làng ngoại thành Hà Nội.
  3. Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của hệ thống thư viện thôn, làng ngoại thành Hà Nội.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động thông tin - thư viện tại các thư viện thôn, làng khu vực ngoại thành Hà Nội.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát tập trung tại 3 thư viện thôn thuộc 3 huyện ngoại thành Hà Nội, bao gồm:
    • Thư viện thôn Bình Vọng (xã Văn Bình, huyện Thường Tín).
    • Thư viện thôn Giang Cao (xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm).
    • Thư viện thôn Yên Xá (xã Tân Triều, huyện Thanh Trì).
  • Phạm vi thời gian: Thu thập dữ liệu và khảo sát thực tế hoạt động từ năm 2005 đến năm 2010.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và căn cứ pháp lý

Khóa luận vận dụng các quan điểm lý luận về thư viện học và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành:

  • Quan điểm của N.K. Krupskaya (1924) khẳng định thư viện là phương thức đưa sách báo đến quần chúng tiết kiệm và hợp lý nhất dưới hình thức sử dụng sách báo tập thể.
  • Khái niệm thư viện theo tiêu chuẩn thống kê của UNESCO (1970) về bộ sưu tập có tổ chức của sách, ấn phẩm định kỳ và tài liệu nghe nhìn phục vụ thông tin, nghiên cứu, giáo dục hoặc giải trí.
  • Điều 1 Pháp lệnh Thư viện do Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam công bố ngày 11/01/2001 quy định chức năng, nhiệm vụ giữ gìn di sản thư tịch, thu thập, tàng trữ, tổ chức khai thác vốn tài liệu phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục và công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
  • Thông tư số 56/2003/TT-BVHTT ngày 16/9/2003 của Bộ Văn hóa - Thông tin về hướng dẫn điều kiện thành lập thư viện và thủ tục đăng ký hoạt động thư viện, quy định tiêu chí thư viện cơ sở vùng đồng bằng phải có tối thiểu 1.500 bản sách, 10 loại báo/tạp chí và ít nhất 15 chỗ ngồi đọc.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả đã kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành và liên ngành:

  • Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu: Thu thập, hệ thống hóa các văn bản đường lối chính sách, số liệu thống kê phát triển kinh tế - xã hội và tài liệu chuyên môn thư viện học.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Phát 300 phiếu điều tra với bảng hỏi 15 câu đến người dùng tin tại 3 thư viện khảo sát, thu về 285 phiếu hợp lệ (tỷ lệ phản hồi đạt 95%). Đồng thời tiến hành phỏng vấn sâu trực tiếp cán bộ thư viện, lãnh đạo địa phương và độc giả.
  • Phương pháp quan sát trực tiếp: Ghi nhận thực tế cách thức bố trí kho sách, trang thiết bị, tình trạng bảo quản và quy trình phục vụ bạn đọc tại chỗ.
  • Phương pháp thống kê: Xử lý các chỉ số định lượng về tỷ lệ cơ cấu đối tượng người dùng tin, nhu cầu thể loại sách báo, tỷ lệ đáp ứng yêu cầu tài liệu và số lượt phục vụ hàng năm.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu các chỉ tiêu hoạt động, tổ chức nghiệp vụ và cơ sở vật chất giữa 3 thư viện điểm khảo sát.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu khái quát về mô hình thư viện thôn, làng

Chương này phân tích bối cảnh kinh tế - chính trị - xã hội của Hà Nội sau khi mở rộng địa giới, vị trí của thư viện thôn làng trong hệ thống thư viện công cộng và kết quả điều tra nhu cầu người dùng tin.

Thư viện thôn làng cùng với tủ sách cơ sở được xác định là cấp cuối cùng trong mạng lưới thư viện công cộng (đứng đầu là Thư viện Quốc gia, tiếp theo là hệ thống thư viện cấp tỉnh/thành phố và quận/huyện). Về lịch sử hình thành, phần lớn thư viện thôn xuất phát từ sáng kiến của những người cao tuổi, cựu chiến binh và cán bộ hưu trí:

  • Thư viện thôn Bình Vọng (huyện Thường Tín): Thành lập năm 1999 do cụ Dương Văn Phi (Chi hội trưởng Chi hội Người cao tuổi thôn) đề xuất, hiện do bác Lương Văn Tăng làm chủ nhiệm.
  • Thư viện thôn Giang Cao (huyện Gia Lâm): Thành lập tháng 7/1999 từ tủ sách khoảng 200 cuốn do ông Nguyễn Huy Truy đề xuất.
  • Thư viện thôn Yên Xá (huyện Thanh Trì): Do Hội Người cao tuổi thôn thành lập năm 2005.

Kết quả điều tra 285 phiếu khảo sát phản ánh cơ cấu nghề nghiệp và nhu cầu tin tại địa bàn:

Nhóm người dùng tin Thành phần chi tiết Tỷ lệ (%)
Nhóm 1: Khoa học - công nghệ (5,0%) Cán bộ quản lý, lãnh đạo địa phương 1,2
Giáo viên, giảng viên 2,3
Cán bộ kỹ thuật, khuyến nông 1,5
Nhóm 2: Phổ thông (95,0%) Cán bộ hưu trí 39,0
Học sinh, sinh viên 29,3
Thiếu nhi 24,0
Nông dân 2,7

Về lĩnh vực tài liệu được quan tâm: Văn học - nghệ thuật chiếm 30,3%; Sách thiếu nhi chiếm 27,6%; Chính trị - xã hội chiếm 21,1%; Nhà nước và pháp luật chiếm 12,0%; Khoa học - kỹ thuật chiếm 9,0%. Về loại hình tài liệu: Sách chiếm 76,0%; Tạp chí chiếm 13,0%; Báo chiếm 11,0%. Toàn bộ 100% tài liệu được sử dụng bằng tiếng Việt.

Chương 2: Thực trạng hoạt động của một số thư viện thôn, làng ngoại thành Hà Nội

Chương này đánh giá chi tiết công tác nghiệp vụ, công tác phục vụ bạn đọc và những điểm mạnh, tồn tại tại 3 thư viện khảo sát.

Tiêu chí khảo sát Thư viện thôn Bình Vọng Thư viện thôn Giang Cao Thư viện thôn Yên Xá
Trụ sở & Diện tích 2 phòng tại Nhà văn hóa thôn (57 m²) 1 phòng tại Nhà văn hóa thôn (30 m²) Đặt tại đình làng thôn (70 m²)
Trang thiết bị 5 kệ sách, 1 máy tính, bàn ghế 4 tủ sách, 1 giá sách, 30 chỗ ngồi Tủ sách không khóa, >100 chỗ ngồi
Vốn sách 6.772 cuốn Khoảng 5.000 cuốn 397 cuốn
Báo & Tạp chí 20 tạp chí, 8 đầu báo Hơn 30 tên báo và tạp chí 8 loại báo và tạp chí
Nhân sự quản lý 1 chủ nhiệm, 2 cán bộ, 13 cộng tác viên (chia 7 tổ) 1 người phụ trách kiêm nhiệm Chưa có cán bộ phụ trách chính thức
Kinh phí hoạt động Hoàn toàn do xã hội hóa, tài trợ Xã cấp 1 triệu đ/tháng; phụ cấp thủ thư 100.000 đ/tháng Không có kinh phí định kỳ
Phân loại & Mục lục Phân 5 môn loại (KH, PL, CT, TN, VH), có sổ mục lục Sắp xếp theo tủ chuyên đề, có sổ mục lục Sắp xếp lộn xộn, không có bảng chỉ dẫn
Thẻ thư viện Đã cấp gần 500 thẻ (lệ phí 1.000 đ; miễn phí người già) Đã cấp >1.000 thẻ (lệ phí 12.000 đ; miễn phí người già, HS nghèo) Không phát hành thẻ
Lịch phục vụ Các buổi chiều (14h30–16h30) và ngày Lễ, Tết Các buổi chiều; mùa hè mở thêm các buổi sáng (8h–10h) Không cố định, phụ thuộc người giữ chìa khóa
Hiệu quả phục vụ 30–40 lượt đọc/ngày; 5.000 lượt mượn về nhà/năm 20.000 lượt bạn đọc/năm; 75.000 lượt tài liệu lưu hành/năm Không theo dõi thống kê

Công tác bổ sung tài liệu chủ yếu dựa vào nguồn biếu tặng của nhân dân, cán bộ hưu trí và kiều bào; nguồn luân chuyển từ Thư viện Hà Nội và thư viện cấp huyện (Bình Vọng được luân chuyển 350–500 đầu sách/năm, chia làm 2 đợt); cùng sự hỗ trợ từ "Dự án phát triển vốn tài liệu cho các thư viện làng xã Việt Nam 2006–2009" do Hội Hỗ trợ Giáo dục và Thư viện Hoa Kỳ (LEAF) tài trợ thông qua Thư viện Quốc gia (mỗi thư viện thụ hưởng nhận 1.000 bản sách và 3 đầu báo: Nông nghiệp Việt Nam, Sức khỏe và Đời sống, Văn hóa).

Khảo sát thói quen sử dụng cho thấy: 57% bạn đọc lựa chọn mượn về nhà, 43% đọc tại chỗ, 14% nghe tuyên truyền qua loa phát thanh; 53% đến thư viện để giải trí, 37% để học tập và 10% tìm thông tin phục vụ sản xuất. Về khả năng đáp ứng: 75% bạn đọc không bị từ chối yêu cầu tài liệu, 19% thỉnh thoảng bị từ chối và 6% bị từ chối (chủ yếu do sách đang có người khác mượn).

Tác giả chỉ ra 8 nhóm hạn chế lớn:

  1. Thiếu kinh phí hoạt động thường xuyên và mua sách báo mới.
  2. Thư viện thôn chưa được công nhận tư cách pháp lý là thư viện cơ sở trong hệ thống công cộng.
  3. Vốn tài liệu còn nghèo nàn, thiếu tài liệu chuyên sâu phục vụ làng nghề và sản xuất nông nghiệp.
  4. Cơ sở vật chất chật hẹp, bảo quản thủ công dễ ẩm mốc, mối mọt.
  5. Chưa thu hút được lực lượng người dùng tin khoa học kỹ thuật và lãnh đạo địa phương.
  6. Nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền xã chưa đúng mức, còn mang tính hình thức.
  7. Cán bộ thư viện chủ yếu là tình nguyện, cao tuổi, chưa được đào tạo nghiệp vụ chuẩn hóa.
  8. Dịch vụ còn đơn điệu, chưa ứng dụng máy tính và mạng Internet trong tra cứu.

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của các thư viện thôn, làng ngoại thành Hà Nội

Trên cơ sở phân tích thực trạng, chương 3 đề xuất hệ thống 8 nhóm giải pháp đồng bộ:

  1. Tăng cường nguồn thông tin: Lập kế hoạch bổ sung định kỳ sách báo phù hợp nông thôn (các báo: Nhân dân, Hà Nội mới, Tiền phong, Phụ nữ, Gia đình, Cựu chiến binh); duy trì luân chuyển sách từ Thư viện Hà Nội và thư viện huyện; đẩy mạnh kết nối Internet và xã hội hóa quyên góp.
  2. Tạo điều kiện để thư viện thôn, làng được công nhận là thư viện cơ sở: Cụ thể hóa các tiêu chuẩn của Thông tư 56/2003/TT-BVHTT để đưa thư viện thôn chính thức vào mạng lưới quản lý ngành dọc, hưởng hỗ trợ nghiệp vụ và chính sách nhà nước.
  3. Tăng cường kinh phí hoạt động: Chính quyền cấp xã cần trích ngân sách địa phương cấp kinh phí cố định hàng năm cho thư viện mua sách báo và hỗ trợ phụ cấp cho thủ thư.
  4. Đa dạng hóa các dịch vụ thông tin - thư viện: Bố trí máy tính tra cứu danh mục, cung cấp dịch vụ truy cập Internet, mở rộng hình thức mượn sách lưu động đến các cụm dân cư.
  5. Tăng cường cơ sở vật chất: Nâng cấp diện tích phòng đọc tại nhà văn hóa thôn, trang bị đủ giá, kệ, ánh sáng, quạt mát và tủ có khóa để bảo quản tài liệu.
  6. Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ thư viện và đào tạo người dùng tin: Tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ ngắn hạn cho người phụ trách; hướng dẫn bạn đọc kỹ năng tra cứu mục lục và sử dụng tài liệu hiệu quả.
  7. Định hướng và phát triển văn hóa đọc: Phối hợp với Hội Khuyến học, Đoàn Thanh niên tổ chức thi kể chuyện sách, triển lãm tài liệu nhân các ngày kỷ niệm và biểu dương cá nhân đọc tích cực.
  8. Mở rộng mô hình thư viện thôn, làng: Nhân rộng kinh nghiệm xây dựng mạng lưới cộng tác viên của thôn Bình Vọng và mô hình tự quản của thôn Giang Cao sang các địa bàn nông thôn khác của Hà Nội.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Phác thảo bức tranh thực trạng về mạng lưới 740 thư viện và tủ sách cơ sở tại khu vực ngoại thành Hà Nội đến năm 2010.
  • Lượng hóa cơ cấu bạn đọc qua 285 phiếu điều tra thực tế, xác định nhóm độc giả lớn nhất là cán bộ hưu trí (39,0%), học sinh - sinh viên (29,3%) và thiếu nhi (24,0%).
  • Làm rõ hiệu quả phục vụ thông qua số liệu thực tế tại Thư viện Bình Vọng (gần 500 thẻ, 30–40 lượt/ngày, 5.000 lượt mượn/năm) và Giang Cao (>1.000 thẻ, 20.000 lượt người/năm, 75.000 lượt tài liệu/năm).

Đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn

  • Về lý luận: Khóa luận góp phần làm rõ vai trò của thiết chế thư viện thôn, làng trong việc duy trì và nâng cao đời sống văn hóa cơ sở tại các vùng nông thôn đang trong quá trình đô thị hóa.
  • Về thực tiễn: Khảo sát chi tiết 3 mô hình thư viện thôn tiêu biểu (Bình Vọng, Giang Cao, Yên Xá), chỉ ra những vướng mắc pháp lý, tổ chức và tài chính; đồng thời đúc kết bài học thực tiễn để nhân rộng kinh nghiệm xây dựng mạng lưới thư viện tự quản dựa vào cộng đồng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn về thời gian và điều kiện thực hiện của một khóa luận tốt nghiệp, phạm vi khảo sát thực tế mới chỉ tập trung sâu tại 3 thư viện thôn thuộc 3 huyện (Thường Tín, Gia Lâm, Thanh Trì) trên tổng số 18 huyện ngoại thành Hà Nội.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát diện rộng trên toàn bộ 740 thư viện và tủ sách cơ sở của thành phố Hà Nội; nghiên cứu cơ chế phối hợp liên ngành giữa ngành Văn hóa - Thông tin với hệ thống Điểm bưu điện văn hóa xã và Tủ sách pháp luật; đánh giá mức độ duy trì vốn tài liệu của các thư viện cơ sở sau khi các dự án tài trợ quốc tế kết thúc.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Thông tin - Thư viện, Quản lý Văn hóa, Văn hóa học: Cung cấp phương pháp khảo sát thực địa, mẫu bảng hỏi nhu cầu tin và kỹ năng phân tích hoạt động thư viện cơ sở.
  • Cán bộ quản lý thư viện các cấp: Tham khảo tư liệu thực tiễn về công tác luân chuyển sách báo và hỗ trợ nghiệp vụ cho tuyến xã, thôn.
  • Chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể (Hội Khuyến học, Hội Người cao tuổi): Vận dụng mô hình tổ chức mạng lưới cộng tác viên tự quản để xây dựng phong trào đọc sách tại thôn làng.

Câu hỏi thường gặp

1. Phạm vi khảo sát thực tế của khóa luận được thực hiện tại những địa điểm nào?

Khóa luận tiến hành khảo sát hoạt động giai đoạn 2005–2010 tại 3 thư viện thôn thuộc 3 huyện ngoại thành Hà Nội:

  • Thư viện thôn Bình Vọng, xã Văn Bình, huyện Thường Tín.
  • Thư viện thôn Giang Cao, xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm.
  • Thư viện thôn Yên Xá, xã Tân Triều, huyện Thanh Trì.

2. Tác giả đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu nào để thu thập dữ liệu?

Tác giả đã kết hợp 5 phương pháp:

  • Phân tích tổng hợp tài liệu.
  • Điều tra xã hội học bằng bảng hỏi (gửi 300 phiếu, thu về 285 phiếu hợp lệ) và phỏng vấn trực tiếp.
  • Quan sát thực tế cơ sở vật chất, kho tài liệu.
  • Thống kê xử lý số liệu định lượng.
  • So sánh, đối chiếu giữa 3 mô hình thư viện.

3. Cơ cấu người dùng tin tại các thư viện thôn làng ngoại thành Hà Nội gồm những nhóm nào?

Người dùng tin được chia thành 2 nhóm chính:

  • Nhóm khoa học - công nghệ (5,0%): Cán bộ quản lý (1,2%), giáo viên/giảng viên (2,3%), cán bộ kỹ thuật (1,5%).
  • Nhóm phổ thông (95,0%): Cán bộ hưu trí (39,0%), học sinh/sinh viên (29,3%), thiếu nhi (24,0%), nông dân (2,7%).

4. Quy mô vốn tài liệu và cơ sở vật chất của 3 thư viện khảo sát khác nhau ra sao?

  • Thôn Bình Vọng: 6.772 cuốn sách, 20 tên tạp chí, 8 tên báo; diện tích 57 m² (2 phòng tại nhà văn hóa); có 5 kệ sách và 1 máy tính.
  • Thôn Giang Cao: Khoảng 5.000 cuốn sách, trên 30 tên báo và tạp chí; diện tích 30 m² tại nhà văn hóa; có 4 tủ sách, 1 giá sách và 30 chỗ ngồi.
  • Thôn Yên Xá: 397 cuốn sách, 8 tên báo và tạp chí; diện tích 70 m² tại đình làng với trên 100 chỗ ngồi nhưng trang thiết bị bảo quản còn sơ sài.

5. Dự án LEAF đã hỗ trợ những gì cho các thư viện thôn, làng trong giai đoạn 2006–2009?

Thông qua Thư viện Quốc gia, "Dự án phát triển vốn tài liệu cho các thư viện làng xã Việt Nam 2006–2009" do Hiệp hội Hỗ trợ Giáo dục và Thư viện Hoa Kỳ (LEAF) tài trợ đã cung cấp cho mỗi thư viện thụ hưởng 1.000 bản sách cùng 3 đầu báo định kỳ gồm: báo Nông nghiệp Việt Nam, báo Sức khỏe và Đời sống, và báo Văn hóa.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và khảo sát toàn diện thực trạng hoạt động của mô hình thư viện thôn, làng tại khu vực ngoại thành Hà Nội giai đoạn 2005–2010. Công trình chỉ rõ vai trò nòng cốt của các cán bộ hưu trí, hội người cao tuổi và nguồn lực xã hội hóa trong việc duy trì hoạt động phục vụ bạn đọc nông thôn, đồng thời nhận diện các rào cản về kinh phí, hành lang pháp lý và nghiệp vụ. Hệ thống 8 nhóm giải pháp được đề xuất trong khóa luận mang tính khả thi, đóng góp thiết thực cho công tác phát triển văn hóa đọc và xây dựng đời sống văn hóa cơ sở tại Thủ đô.