phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, khóa luận chia làm 3 chơng chính: - Chơng I: Giới thiệu khái quát về mô hình th viện thôn, làng - Chơng 2: Thực trạng hoạt động của một số th viện thôn, làng ngoại thành Hà Nội - Chơng 3: Giải pháp nâng cao chất lợng hoạt động của các th viện thôn, làng ngoại thành Hà Nội Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã nhận đợc sự hớng dẫn nhiệt tình của TS. Nguyễn Viết Nghĩa cùng sự giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ th viện tại th viện thôn Bình Vọng, th viện thôn Giang Cao, th viện thôn Yên Xá. Tuy nhiên do thời gian và trình độ có hạn, khóa luận không tránh khỏi những khiếm khuyết. Tác giả khóa luận rất mong nhận đợc những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo trong và ngoài Khoa Thông tin Nguyễn Thị Thu II K51-Thông tin ~Thoi viện Khóa luận tốt nghiệp Trojong Dai học Khoa học xã hội & Nhân văn — Th viện, các cán bộ th viện thôn Văn Bình, th viện thôn Giang Cao, th viện thôn Yên Xá để khóa luận hoàn thiện hơn.
GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VÈ MÔ HÌNH THƠ] VIỆN THON, LANG 1. Vài nét về điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội của Hà Nội Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá và khoa học lớn của cả nớc, là đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam. Hiện nay, sau khi mở rộng địa giới hành chính, Hà Nội có 29 đơn vị hành chính cấp huyện gồm 10 quận, 18 huyện, I thị xã và 580 đơn vị hành chính cấp xã gồm 404 xã, 154 phờng và 22 thị trấn. Hà Nội có diện tích tự nhiên 334.470,02 ha với dân số là 6.
Mật độ dân số Hà Nội hiện nay không đồng đều giữa các quận nội đô và khu vực ngoại thành. Tính chung toàn thành phố, mật độ dân c trung bình 1.979 ngoi/km?, nhng tại quận Đống Đa, mật độ lên tới 35.341 ngời/km', trong khi đó, ở những huyện nh ngoại thành nh Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức, mật độ không tới 1. Toàn thành phố Hà Nội có 2.087 c dân thành thị, (chiếm 41,1%) và 3.750 c dân nông thôn, (chiếm 58,1%). Do nhiều nguyên nhân khác nhau, sự khác biệt giữa nội thành và ngoại thành không chỉ thể hiện ở mức độ thu nhập tính trên đầu ngời mà còn thể hiện qua mức sống, điều kiện chăm sóc y tế, giáo dục, mức độ hỏng thụ văn hóa,.
Về mặt kinh tế, giai đoạn từ năm 2007 — 2009, mặc dò có sự tác động của khủng hoảng tài chính và sự suy giảm kinh tế diễn ra trên toàn thế giới Nguyễn Thị Thu 12 K51-Thông tin ~Thoi viện Khóa luận tốt nghiệp Trojong Dai học Khoa học xã hội & Nhân văn nói chung và Việt Nam nói riêng, thiên tai dịch bệnh diễn biến phức tạp, kinh tế Thủ đô vẫn tăng trởng khá, cơ cấu kinh tế có sự chuyên dịch theo hớng tích cực, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng hơn, cụ thể: Tăng trởng GDP bình quân của thành phố giai đoạn từ 2007 - 2009 tăng 9,92 % (GDP năm 2009 tăng 6,7% so với năm 2008). Cơ cấu kinh tế chuyên biến tích cực theo hớng tăng tỉ trọng ngành dịch vụ, công nghiệp, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp. Năm 2009 ngành dịch vụ đóng góp 52,3% trong GDP; công nghiệp - xây dựng 41,4% nông nghiệp giảm chỉ còn 6. Hà Nội là một trong những địa phơng nhận đợc đầu t trực tiếp từ nớc ngoài nhiều nhất, với I.681,2 triệu USD và 290 dự án.
Tốc độ tăng trởng kim ngạch xuất khẩu bình quân 3 năm 2007-2009 đạt 17,2%. Năm 2008, GDP bình quân đầu ngời của Hà Nội lên tới 31,8 triệu đồng, trong khi con sé bình quân của cả nớc là 13,4 triệu đồng. Về phát triển kinh tế ngoại thành, Thành phố đã thực hiện nhiều dự án, mô hình sản xuất mới có hiệu quả kinh té cao, tao diéu kién phat trién các ngành nghề mới ở các vòng nông thôn ngoại thành. Thành phố cũng đã vận động và hỗ trợ nông dân chuyên đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, đa giống mới vào sản xuất và đã thu đợc kết quả tốt.
Sản xuất nông nghiệp tiếp tục tăng trởng, hiệu quả sản xuất nông nghiệp có tiến bộ. Các sản phẩm chủ lực của nông nghiệp Hà Nội (rau an toàn, hoa, lợn hong lac) tiép tuc doc khuyén khich phat trién thong qua hé tro đầu t của Thành phố cho hạ tầng phục vụ sản xuất. Thành phố đã hỗ trợ về giống, quy trình sản xuất, hỗ trợ quảng bá và tiêu thụ sản phâm cho bà con nông dân. Thành phố cũng đã quy hoạch và triển khai xây dựng vòng chăn nuôi thủy Nguyễn Thị Thu 13 K51-Thông tin ~Thoi viện Khóa luận tốt nghiệp Trojong Dai học Khoa học xã hội & Nhân văn sản tập trung và nuôi trồng một số giống thủy sản đặc sản có giá trị kinh tế cao (tại Ứng Hòa, Mỹ Đức), đầy mạnh quy hoạch và triển khai xây dựng các vùng trồng rau an toàn toàn tập trung tại các huyện Đan Phợng, Phúc Thọ, Chơng Mỹ, Thanh Trì.
Nhờ những hỗ trợ của Thành phố, không ít mô hình phát triển kinh tế nh mô hình kinh tế hộ, kinh tế trang trại, kinh tế hợp tác xã, mô hình hợp tác xã nông, lâm, ng gắn với ngành nghề, làng nghề đã thành công và đang đợc nhân rộng, góp phần đắc lực vào công cuộc xây dựng nông thôn mới. Thực hiện “Đề án xây dựng thí điểm nông thôn mới”, ngành ngành nông nghiệp đã có nhiều đóng góp tích cực, sản xuất nông nghiệp Hà Nội trong những năm qua đạt kết quả khá cả về sản long va gia tri. Gia tri san xuất nông, lâm, thủy sản đạt 131 triệu đồng/ha. Chính sự phát triển ôn định, khá vững chắc của nông nghiệp đã góp phần quan trọng bảo đảm an sinh xã hội, tạo đà thúc đây kinh tế ngoại thành, cải thiện một bớc đáng kế đời sống của bà con nông dân.
Bên cạnh những thành tựu đạt đợc, các huyện ngoại thành Hà Nội vẫn gặp không ít khó khăn hạn chế sự phát triển kinh tế, nh đất nông nghiệp tiếp tục bị thu hẹp do xu hớng đô thị hóa, thời tiết không thuận lợi, nguy cơ bùng phát dịch ở cây trông, vật nuôi ở mức cao, nhiêu nơi ngời dân có mức sông thâp. Về chính trị, Hà Nội là nơi tập trung các cơ quan đầu não của cả nớc. Hà Nội là nơi có truyền thống nghìn năm văn hiến và lừng lẫy chiến công đánh giặc, nơi định đô của các vơng triều phong kiến tự chủ Việt Nam. Ngay từ buổi đầu cách mạng, Hà Nội đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc.
Là trái tỉm đất nớc, Hà Nội hội tụ các cơ quan lãnh đạo của Trung ơng Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các đoàn thể xã hội. Thủ Nguyễn Thị Thu 14 K51-Thông tin ~Thoi viện Khóa luận tốt nghiệp Trojong Dai học Khoa học xã hội & Nhân văn đô cũng là nơi diễn ra các Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng, các kỳ họp Quốc hội, mà từ đó đã đa ra các nghị quyết, đờng lối, sách lợc đối nội và đối ngoại cho từng giai đoạn xây dựng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Đại sứ quán của nhiều quốc gia trén thé gidi đều đặt ở Hà Nội. Mọi hoạt động ngoại giao, thăm viếng, trình quốc th, hội đàm, ký hiệp ớc hữu nghị và hợp tác đợc tiến hành tại đây.
Hà Nội vinh dự đợc đón nhận danh hiệu "Thành phó vì hòa bình" và đang khân trơng, hào hứng hớng tới đại lễ 1000 năm Thăng Long — Đông Đô — Hà Nội. Về văn hoá, các cơ quan thông tan, báo chí, xuất bản cấp quốc gia đều đóng tại Hà Nội và cụ thể hơn là tại khu vực nội thành Hà Nội. Không những thế, đây còn là một trong những địa phơng đi đầu trong cả nớc về xây dựng nêp sông văn minh và gia đình văn hóa mới. Về khoa học, giáo dục và đảo tạo, Hà Nội là nơi tập trung 44 trờng đại học và cao đẳng của đất nớc, với hơn 330 nghìn học sinh - sinh viên.
Hà Nội tự hào là cái nôi rèn luyện và tạo dựng các thế hệ trí thức của thời đại. Các thế hệ trí thức với nhiều danh nhân lỗi lạc đã bồi đắp trở lại cho Hà Nội ngày càng thực sự tiêu biểu cho nền văn hóa Việt Nam. Về khoa học, với hơn một trăm viện nghiên cứu trong đó có hai trung tâm nghiên cứu lớn là Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, nhiều viện nghiên cứu ở các các bộ, các ngành. Hàng năm, Hà Nội tô chức một số lợng lớn hội thảo, hội nghị với các tổ chức quốc tế song phơng và đa phơng.
Tuy nhiên, có thê thấy rằng, đang tồn tại một sự khác biệt rất lớn giữa vòng nông thôn ngoại thành và nội đô thành phố Hà Nội. Sự chênh lệch về thu nhập, về mức sống, điều kiện chăm sóc y tế, hởng thụ văn hóa đang Nguyễn Thị Thu 15 K51-Thông tin ~Thoi viện Khóa luận tốt nghiệp Trojong Dai học Khoa học xã hội & Nhân văn ngày càng trở nên rõ rệt. Cách trung tâm thành phố chỉ khoảng 30-40 km, nhng nhiều vòng cha có đờng ô tô, không có nớc sạch, đời sống vật chất của dân c còn rất khó khăn, điều kiện hởng thụ văn hóa tỉnh thần lại càng khó khăn hơn. Qua những phân tích trên có thê thấy một nhu cầu cấp thiết là phải tăng cờng đầu t hơn nữa cho khu vực ngoại thành, không chỉ đề thúc đây phát triển kinh tế mà còn phải nhanh chóng thu hẹp khoảng cách hởng thụ văn hóa giữa nông thôn ngoại thành và nội thành.
Mô hình th viện thôn, làng chính là một trong các giải pháp đề giải quyết nhiệm vụ nặng nề trên. Giới thiệu khái quát về mô hình thơi viện thôn, làng Năm 1924, N.Crúp - xcai - a, nha th viện học ngời Nga đã viết “7? viện là phơng thức đa sách báo đến với quân chúng tiết kiệm nhất và hợp lý nhất. Th viện là hình thức sử dụng sách, báo tập thé”.