phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, Nội dung chính của đề tài Khóa luận gồm 3 chơng: Chơjơng 1. Tài liệu số với công tác phục vụ giáo dục và đào tạo tại Trung tâm Thông tin — Thơi viện Đại học Giao thông Vận tai Chơjơng 2. Thực trạng công tác phát triển, khai thác và chia sẻ tài liệu số tại Trung tam thông tin — Thơi viện Đại học Giao thông Vận tải. Một số nhận xét, đánh giá và kiến nghị nhằm tăng cơjờng công tác phát triển, khai thác và chia sẻ nguồn tài liệu số tại Trung tâm Thông tin — Thoy viện Đại học Giao thông Vận tải.
Sinh viên: Trương Quang Ảnh Trang 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th. Tran Thi Thanh Van NOI DUNG CHGJONG 1. TAI LIEU SO VOI CONG TAC PHUC VU GIAO DUC VADAO TAO TAI TRUNG TAM THONG TIN- THG] VIEN DAI HOC GIAO THONG VAN TAI 1. Những vấn đề lý luận về tài liệu số 1.
Các khái niệm chung Có thê nói, trong những thập niên cuối thế kỷ XX còng với sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin là sự bùng nô đến chóng mặt của thông tin và sự hình thành nền kinh tế tri thức. Các tài liệu số ngày càng đóng vai trò quan trong trọng quá trình biến đổi này. Tuy cha đợc định nghĩa thống nhất thế nào là tài liệu số, nhng nó cũng đợc sự quan tâm đặc biệt; gan liền với khái niệm về tài liệu số là các khái niệm về th viện số, th viện điện tử, tài liệu điện tử và bộ su tập số. Làm rõ những khái niệm nay phan nao có thể hình dung về nguồn tài liệu số trong các cơ quan thông tin — th viện hiện đại.
Khái niệm th viện sô và các khái niệm liên quan Thực tế, trớc khi có các th viện số và khái niệm th viện số đợc định hình thì th viện điện tử đã ra đời và phát triển liên tục tới hiện nay. Tuy nhiên, mặc dù ra đời sớm hơn nhng cũng nh th viện số, th viện điện tử (TVĐT) là một khái niệm cha đợc định nghĩa một cách thống nhất, nó có thể vẫn còn lẫn lộn hoặc đồng nghĩa với các khái niệm nh “ Th viện ảo”, “ Th viện số”, “'Th viện đa phơng AD tiện”. Sinh viên: Trương Quang Ảnh Trang 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th. Tran Thi Thanh Van TVĐT có thể đợc định nghĩa nh sau: “Một hệ thống thông tin trong đó các nguồn thông tin đều có sẵn đới dạng có thể xử lý đợc bằng máy tính và trong đó tất cả các chức năng bổ sung, lu trữ, bảo quan, tìm kiếm, truy cập và hiển thị đều sử đụng kỹ thuật số”.[6] Khái niệm TVĐT có thể dùng theo nghĩa tổng quát nhất cho mọi loại hình th viện đã đợc tin học hóa toàn bộ hoặc một số sản phẩm, dịch vụ.
TVĐT có thé đợc coi nh là nơi ngời sử dụng có thé tới để thực hiện những công việc mà họ vẫn thờng làm với th viện truyền thống, nhng đã đợc điện tử hoá. Khái niệm TVĐT có liên quan trực tiếp tới sự bùng nổ thông tin trên Internet và Web, các thiết bị lu trữ thông tin đa phơng tiện. Cùng lúc với sự bùng nồ thông tin và sự manh nha của nền kinh tế tri thức là sự hình thành và bùng nô của kỹ thuật số hóa làm tăng khả năng đáp ứng nhu cầu ngày một gia tăng về lu trữ, tổ chức và phân phối thông tin trong xã hội. Th viện số (TVS) dần dần hình thành nh một xu thế tat yếu, tạo ra một cuộc cách mạng trong lĩnh vực th viện — thông tin.
Một tìm kiếm Google tiến hành vào đầu tháng 4/2010 về “digital library” hoặc “digital libraries” cho tới 340.[15] Tuy vậy, khái niệm th viện số hiện nay vẫn còn là một điều tranh cãi. Với nhiều giả thiết và nhìn từ các góc độ khác nhau nên có những khái niệm tơng đối khác nhau về th viện sô. Hiệp hội Th viện số Hoa Kỳ (DLF) định nghĩa nh sau: “Th viện số là một tổ chức cung cấp tài nguyên bao gồm các nhân viên chuyên biệt giúp lựa chọn, tổ chức, cung cấp khả năng truy xuất thông minh, chỉ dẫn, phân phối, bảo quản tính toàn vẹn và sự thống nhất của các bộ su tập theo thời gian để đảm bảo sao cho chúng luôn sẵn có đề truy xuất một cách dễ dàng và kinh tế Sinh viên: Trương Quang Ảnh Trang 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th. Tran Thi Thanh Van nhất đối với một cộng đồng ngời dùng hoặc một nhóm cộng đồng ngời dòng.”[15] Theo một cách tiếp cận khác, năm 1994 Gladney đa ra khái niệm về TVS nh sau: “Một TVS phải là một tập hợp các thiết bị máy tính, hệ thống lu trữ, truyền thông còng với nội dung số và phần mềm để tái tạo và thúc đây mở rộng các dịch vụ thông tin của các th viện truyền thống chứa các tài liệu trên giấy và các vật mang tin khác vẫn làm nh thu thập,biên mục, tìm kiếm và chia sẻ thông tin.
Một dịch vụ TVS phải bao gồm các dịch vụ chính yếu của các th viện truyền thống và khai thác tối đa các lợi ích của công nghệ lu trữ số, tìm kiếm thông tin và truyền thông số”.[15] Tại Việt Nam, theo Vũ Thị Ngọc Liên: “Th viện số là một th viện điện tử cao cấp trong đó toàn bộ các tài liệu của th viện đã đợc số hóa và đợc quản lý bằng một phần mềm chuyên nghiệp có tô chức giúp ngời dòng dễ dàng truy cập, tìm kiếm và xem đợc nội dung toàn văn của chúng từ xa thông qua hệ thống mạng thông tin và các phơng tiện truyền thông”. [15] Nhng dò hiểu nh thế nào đi chăng nữa thì TVS là cơ hội đặc biệt cho th viện truyền thống đổi mới phơng thức phục vụ cho ngời dùng tin, đảm bảo hiệu quả, chất lợng cho đối tong phuc vu. Qua đây, cũng có thé khang định th viện số và th viện điện tử hoàn toàn không phải là một, nhng hai mô hình th viện hiện đại này cũng có mối liên hệ chặt chẽ và giống nhau ở nhiều điểm. Khái niệm tài liệu số và các khái niệm liên quan Liên quan tới tài liệu sô và đê hiêu rõ về tài liệu sô cân năm rõ và phân biệt khái niệm gân với nó là tài liệu điện tử.
Đông thời, các khái niệm có liên Sinh viên: Trương Quang Ảnh Trang 10 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th. Tran Thi Thanh Van quan truc tiép tới tài liệu số nh bộ su tập số, số hóa cũng cần đợc hiểu một cách TỐ ràng. Hiểu một cách ngắn gọn thì tài liệu điện tử đợc xem nh các tài liệu đợc trình bày và lu trữ trên vật mang tin điện tử và có thể truy cập đợc thông qua hệ thống máy tính điện tử và mạng máy tính. Các vật mang tin có thê là băng từ, đĩa từ, các vật lu trữ thông tin của máy tính khác.
Lancaster đã phác thảo một lịch sử ngắn gọn về tài liệu điện tử nh sau: - Sử đụng máy tính để tạo ra những ấn bản in trên giấy thong thong. - Phân phối văn bản bằng hình thức điện tử nơi mà phiên bản điện tử tơng dong chính xác với phiên bản In ân. - Xuất bản những ấn phẩm nhỏ hơn bản in băng hình thức điện tử, có thêm đặc điểm phụ trội khả năng nghiên cứu, điều khiển đữ liệu và thông báo khả năng thông qua sự tơng xứng hình ảnh. - Tạo ra những ấn bản hoàn toàn mới và khai thác khả năng thật sự của điện tử học, chắng hạn nh những siêu văn bản, âm thanh, phơng tiện truyền thông cao.
Tài liệu số (TLS) là những tài liệu đợc tạo lập và lu giữ, khai thác trên máy tính. Tài liệu số có thể đợc xây dựng thông qua việc xử lý các file văn bản, các bảng biểu hoặc đợc chuyên đổi sang dạng số từ những tài liệu dạng khác. Tài liệu cũng đợc đề cập đến nh là những tài liệu điện tử. Sinh viên: Trương Quang Ảnh Trang 11 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.
Tran Thi Thanh Van Theo các khái niệm về TLS và TLĐT, có thé thay sự giống và khác nhau giữa hai loại tài liệu này. Tuy nhiên, trong phạm vi hạn hẹp của Khóa luận này xin không đề cập đến vấn đề này. Khái niệm tài liệu số thờng đi kèm với khái niệm về bộ su tập số. Có thể hiểu “Bộ su tập số là một tập hợp có tổ chức nhiều tài liệu đã đợc số hoá đới nhiều hình thức khác nhau (văn bản, hình ảnh, Audio, Video.) về một chủ đề.
Mặc dù mỗi loại hình tài liệu có sự khác nhau về cách thể hiện, nhng nó đều cung cấp một giao diện đồng nhất mà qua đó các tài liệu có thể truy cập, tìm kiếm dễ dàng” [6]. Một bộ su tập chứa nhiều tài liệu với các dạng thức khác nhau, nhng lại cung cấp một giao diện đồng nhất; qua đó tất cả các tài liệu có thé doc truy cập, mặc dù cách mà tài liệu đó hiển thị sẽ phụ thuộc vào phơng tiện và dạng thức của tài liệu đó. Quá trình chuyền các dạng dữ liệu truyền thống nh các bản viết tay, bản in trên giấy, hình ảnh. sang chuẩn dữ liệu trên máy tính và đợc máy tính nhận biết đợc gọi là số hoá tài liệu.
Nh vậy, số hoá tài liệu là hình thức chuyển đôi các dữ liệu truyền thống bên ngoài thành dạng đữ liệu số mà máy tính có thê hiểu đợc. Ưu điểm của số hóa tài liệu: - Giúp việc lu trữ, truy xuất, chia sẻ, tìm kiếm thông t in một cách dễ dàng - Linh hoạt trong việc chuyên đồi sang các loại dữ liệu số khác nhau - Giảm chi phi tối đa cho việc quản lý, không gian lutrữ - Có khả năng chỉnh sửa và tái sử dụng dữ liệu 1. Đặc điểm chung của tài liệu số Do bản chất tồn tại và lu trữ hoàn toàn khác biệt với các loại hình tài liệu truyền thống nên tài liệu số chỉ có thể vận động từ truy cập, khai thác và chia Sinh viên: Trương Quang Ảnh Trang 12 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th. Tran Thi Thanh Van sẻ trên máy tính hay mạng các máy tính.
Do vậy so với tài liệu truyền thống, tài liệu số có những đặc điểm khá nổi bật sau đây: -_ Hệ thống đa truy (multi-access): Tính năng này hay còn gọi là tính dé dàng truy cập. Tài liệu số trực tuyến trên mạng có thê đợc truy cập và cung cấp cho nhiều địa điểm truy cập (văn phòng, nhà ở, trờng học.