Chương 1: Cơ sở lý luận về sản phẩm và dịch vụ thông tin –thư viện và tổng quan về Trung tâm thông tin – thư viện Trường Đại học Hải Phòng. Chương 2: Thực trạng sản phẩm và dịch vụ thông tin –thư viện tại Trường Đại học Hải Phòng. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện sản phẩm và dịch vụ thông tin –thư viện tại Trường Đại học Hải Phòng. 13 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN – THƢ VIỆN VÀ TỔNG QUAN VỀ TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƢ VIỆN TRƢỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG 1.
Cơ sở lý luận về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thƣ viện 1. Khái niệm sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 1. Khái niệm sản phẩm thông tin – thư viện Sản phẩm Trong quá trình phát triển của loài người nhờ có hoạt động lao động sản xuất đã làm chuyển hóa các nguồn tài nguyên thành sản phẩm có ích. Mỗi sản phẩm được sản xuất ra đều nhằm đáp ứng những nhu cầu nhất định của con người.
Như vậy, sản phẩm chính là đầu ra hay kết quả của các hoạt động lao động của con người. Theo định nghĩa của Kinh tế chính trị Mác-Lênin thì sản phẩm là kết quả của sản xuất, tổng hợp các thuộc tính về cơ học, lý học, hóa học và các thuộc tính có ích khác làm cho sản phẩm có công dụng nhất định và có thể thỏa mãn những nhu cầu của con người [5, tr. Theo từ điển tiếng Việt thì “Sản phẩm là kết quả được tạo ra trong quá trình lao động của con người” [25, tr. Sản phẩm thông tin – thư viện (SP TT - TV) Về nguyên tắc khái niệm SP TT - TV cũng được tạo ra trên cơ sở khái niệm sản phẩm.
Theo các định nghĩa trên sản phẩm là kết quả của các hoạt động hay các quá trình, là cái do con người lao động tạo ra. Vì vậy có thể hiểu SP TT - TV là do con người trong lĩnh vực TT - TV tạo ra, là kết quả của quá trình xử lý thông tin như: phân loại, biên mục, định từ khóa, tóm tắt, chú giải, tổng luận,. và những quá trình phân tích, tổng hợp thông tin khác. Người thực hiện quá trình xử lý thông tin là cán bộ TT - TV có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, có tâm với nghề.
Các SP TT –TV cũng bao gồm nhiều hình thức khác nhau: sản phẩm mang tính truyền thống: mục lục, thư mục,… và sản phẩm mang tính hiện đại: cơ sở dữ 14 liệu (CSDL), bản tin điện tử, website,…. SP TT - TV được hình thành nhằm thỏa mãn nhu cầu tra cứu tin và nhu cầu của chính bản thân tài liệu. SP phải phụ thuộc chặt chẽ vào nhu cầu cũng như sự biến đổi của nhu cầu. Cũng như mọi sản phẩm khác, SP TT - TV cũng không ngừng hoàn thiện và phát triển để thích ứng với nhu cầu mà nó hướng tới.
Một số đặc trưng của SP TT - TV - Mỗi sản phẩm đều có chu kỳ sống nhất định Mỗi loại SP TT - TV ra đời đều dựa trên nhu cầu của con người, được phát triển theo hình sin nghĩa là được tạo ra, có phát triển, suy giảm và thay thế bằng một sản phẩm khác phù hợp hơn. - Những sản phẩm mới là cần thiết cho sự phát triển Nhu cầu tin của con người là vô tận và ngày một hướng đến sự thuận tiện, nhanh chóng, văn minh nên đòi hỏi tất yếu là phải có những SP TT - TV mới. Những cơ quan TT - TV đã và đang trên con đường tiến tới thư viện điện tử là những cơ quan có nhân sự chuyên nghiên cứu đón đầu sự phát triển các SP TT - TV mới trên thế giới và trong nước để áp dụng vào thực tế của đơn vị mình. - Sản phẩm phải phù hợp với môi trường tồn tại và nguồn tài nguyên Trong xã hội hiện đại khối lượng thông tin là vô cùng lớn.
Một cơ quan TT - TV dù phát triển đến đâu cũng không thể thu thập đầy đủ các xuất bản phẩm. Vì vậy, các cơ quan TT - TV phải có chính sách phát triển các SP TT - TV phù hợp với đặc điểm nhu cầu của NDT mà cơ quan mình phục vụ, đồng thời phải có các biện pháp xây dựng cơ sở hạ tầng tương ứng để có thể liên kết, chia sẻ nguồn lực thông tin với đơn vị bạn. Khái niệm dịch vụ thông tin – thư viện Dịch vụ Theo cách hiểu phổ biến dịch vụ là một hoạt động mà sản phẩm của nó là vô hình. Nó giải quyết các mối quan hệ với khách hàng hoặc với tài sản do khách hàng sở hữu mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu.
Theo cách hiểu khác: Dịch vụ là một hoạt động xã hội mà hoạt động này đã xảy ra trong mối quan hệ trực tiếp giữa khách hàng và đại diện của công ty cung ứng dịch vụ. 15 Theo ISO 8402:1999 Dịch vụ là kết quả tạo ra do các hoạt động tiếp xúc giữa người cung ứng và khách hàng và các hoạt động nội bộ của người cung ứng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Theo Từ điển tiếng Việt: “Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công” [25, tr. Có thể coi dịch vụ là cầu nối, là phương tiện để con người tiếp cận, sử dụng được những sản phẩm trong xã hội.
Trong xã hội hiện đại, các ngành nghề đều có dịch vụ đi kèm, ngành TT - TV cũng vậy. Dịch vụ thông tin – thư viện Theo từ điển giải nghĩa Thư viện học và Tin học Anh - Việt: “Dịch vụ thư viện (Library Service) là một từ dùng để chỉ tất cả những hoạt động cũng như chương trình được thư viện cung cấp để đáp ứng với nhu cầu về thông tin của cộng đồng độc giả” [22, tr. Thông tư số 18/2014/TT-BVHTTDL ngày 08 tháng 12 năm 2014 quy định về hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của thư viện định nghĩa “Dịch vụ thư viện là các công việc, hoạt động, quá trình hay cách thức mà thư viện tổ chức thực hiện nhằm phục vụ, đáp ứng nhu cầu người sử dụng” [20]. Trong luận án tiến sỹ của tác giả Vũ Duy Hiệp thì dịch vụ thông tin – thư viện được hiểu là: “quá trình lao động mang tính chất chuyên môn nghiệp vụ, trong quá trình triển khai, có thể phải sử dụng một số SP TT -TV hay DV TT -TV khác hoặc một số trang thiết bị kỹ thuật, cơ sở vật chất kỹ thuật, nhằm đáp ứng nhu cầu tin của NDT” Giáo trình Dịch vụ Thông tin – Thư viện thì tác giả Trương Đại Lượng giải nghĩa như sau: “Dịch vụ thông tin - thư viện được xem là một khâu công việc trong dây truyền hoạt động của cơ quan thông tin- thư viện, bao gồm: bổ sung, xử lý, lưu trữ và phổ biến thông tin.
Tuy nhiên, bản chất của dịch vụ thông tin thư viện là cung cấp và phổ biến thông tin”.7] 16 Vậy từ các định nghĩa trên tác giả đưa ra một định nghĩa như sau: Dịch vụ thông tin – thư viện là bao gồm tất cả các hoạt động nhằm tạo ra các sản phẩm thông tin dưới nhiều dạng và hình thức khác nhau để đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu của người dùng tin thông qua các công cụ trợ giúp. Một số đặc trưng của dịch vụ thông tin - thư viện - Tính đồng thời Dịch vụ được tạo ra và được cung cấp cho NDT sử dụng nó được diễn ra đồng thời với sự tham gia của người cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ. - Tính vô hình (intangibility) Dịch vụ TT - TV không có hình hài nhất định, không thể lưu trữ như sản phẩm. - Tính chất không đồng nhất (heterogeneity) Chất lượng dịch vụ TT - TV gắn với một cá nhân/tập thể tạo ra dịch vụ.
Vì vậy, chất lượng của dịch vụ phụ thuộc vào năng lực, trình độ của họ. Cùng là một dịch vụ cho mượn tài liệu gốc nhưng mỗi một đơn vị lại có những chính sách cho mượn khác nhau, vai trò, vị trí của từng dịch vụ ở mỗi đơn vị là không giống nhau. - Tính không thể tách rời/chia cắt giữa cung cấp và sử dụng dịch vụ Muốn thực hiện một dịch vụ, người cung cấp dịch vụ và NDT phải tiếp xúc với nhau để cung cấp và sử dụng DV tại các địa điểm và thời gian phù hợp cho hai bên nhằm thu được kết quả mà người sử dụng dịch vụ mong muốn. - Tính không chuyển quyền sở hữu được Khi đăng kí sử dụng DV TT -TV thì NDT chỉ được quyền sử dụng DV, được hưởng lợi ích mà DV mang lại trong một thời gian nhất định mà thôi.
- Tính không lưu trữ được DV TT- TV chỉ tồn tại vào thời gian mà nó được cung cấp. Do vậy, DV TT – TV không thể sản xuất hàng loạt để cất vào kho dự trữ, khi có nhu cầu thị trường thì đem ra phục vụ. Mối quan hệ của sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện SP&DV TT – TV có mối quan hệ hữu cơ với nhau. SP TT - TV là kết quả của quá trình xử lý thông tin, làm cơ sở để các cơ quan TT - TV triển khai dịch vụ có liên quan.
DV TT - TV là quá trình lao động mang tính chất chuyên môn 17 nghiệp vụ, nhằm đáp ứng nhu cầu khai thác, sử dụng thư viện nói chung. Để triển khai các DV TT - TV người ta có thể sử dụng các SP TT - TV và cơ sở vật chất kỹ thuật (CSVCKT) của thư viện. Mỗi sản phẩm thông thường đều có gắn tương ứng với một hoặc một số dịch vụ nhằm tạo cho hiệu quả sử dụng của nó được nâng lên mức cao nhất có thể. Trong mối quan hệ giữa SP&DV có sự kết hợp chặt chẽ giữa cái mới và cái cũ, giữa truyền thống và hiện đại, giữa con người và công nghệ.
Ví dụ, dịch vụ phổ biến thông tin hiện tại: Quá trình triển khai DV này bao gồm các hoạt động tìm kiếm, chọn lọc thông tin mới, có nội dung xác định trên cơ sở các CSDL cụ thể (đây là các SP TT - TV được sử dụng dụng trong quá trình triển khai DV), sau đó, hệ thống hóa và định kỳ cung cấp đến NDT qua mạng thông tin (đây là CSVCKT được sử dụng để triển khai DV),. Đồng thời các thông tin phản hồi từ NDT sau khi sử dụng DV TT - TV sẽ là cơ sở để điều chỉnh, hoàn thiện các SP TT - TV. Trong thực tế, cả SP&DV TT - TV đều có chức năng là thoả mãn nhu cầu NDT.