CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC NGUỒN TÀI NGUYÊN THÔNG TIN TẠI THƯ VIỆN ĐẠI HỌC 1.1 Nguồn tài nguyên thông tin 1.1 Khái niệm nguồn TNTT Thuật ngữ nguồn TNTT trong tiếng Anh là: “Information resources” Theo tác giả Nguyễn Hồng Sinh: “Nguồn TNTT của thư viện là tập hợp các nguồn tài liệu được thư viện xây dựng và phát triển hoặc cung cấp các liên kết nhằm phục vụ cho những đối tượng sử dụng nhất định cũng như đáp ứng những chức năng và nhiệm vụ nhất định của thư viện. Các nguồn tài nguyên này bao gồm: - Các nguồn TNTT tại chỗ được lưu giữ tại thư viện - Các nguồn TNTT truy cập từ xa bao gồm nguồn do thư viện có thể truy cập được từ các cơ quan cung cấp thông tin khác và nguồn truy cập miễn phí trên internet”.10] Bên cạnh định nghĩa trên, một số tài liệu lại sử dụng thuật ngữ nguồn lực thông tin khi đề cập đến nguồn TNTT. Theo tác giả Lê Văn Viết: “Nguồn lực thông tin là tổ hợp các tài liệu phản ánh những kết quả nghiên cứu khoa học trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người. Thành phần của nguồn lực thông tin bao gồm nhiều loại hình tài liệu như tài liệu giấy, tài liệu điện tử, tài liệu công bố, tài liệu không công bố,.
Ngoài ra, nguồn lực thông tin còn bao hàm cả bộ máy tra cứu, nhất là cơ sở dữ liệu của các cơ quan thông tin.183] Theo định nghĩa của UNESCO: “Nguồn lực thông tin là các dữ liệu thể hiện dưới dạng văn bản, số, hình ảnh, âm thanh được ghi lại trên một phương tiện theo quy ước và không theo quy ước. Các bộ sưu tập những kiến thức của con người, tổ chức và ngành công nghiệp thông tin” [11, tr.183] Từ các định nghĩa trên, nguồn TNTT được hiểu là tập hợp các nguồn thông tin của thư viện bao gồm: - Những bộ sưu tập có hệ thống các tài liệu dưới các dạng thức khác nhau: + Tài liệu truyền thống: sách, ấn phẩm định kỳ, bản đồ, ảnh. Trần Đức Tịnh – Khoa học Thông tin Thư viện 8 + Tài liệu điện tử: băng ghi âm, vi phim, vi phiếu, CSDL, siêu dữ liệu, bản tin điện tử, website,. và gần đây là cổng thông tin điện tử, cổng kiến thức.
- Những bộ sưu tập có hệ thống các nguồn lực thông tin khác: + Các nguồn tin: hệ thống mục lục, thư mục, cổng thông tin tích hợp, ngân hàng dữ liệu. + Các phần mềm + Các nguồn tin trên internet Có thể tóm lược, nguồn TNTT là tập hợp các nguồn thông tin thể hiện dưới dạng văn bản, phi văn bản được ghi lại trên một vật mang tin theo quy ước và không theo quy ước, phản ánh những kết quả nghiên cứu khoa học trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người và được lưu trữ trong các hệ thống thông tin (thư viện, lưu trữ, ngân hàng dữ liệu) và đi kèm là hệ thống công cụ phục vụ khai thác và sử dụng nguồn TNTT đó.2 Đặc tính của nguồn TNTT Nguồn TNTT của thư viện bao gồm các đặc tính sau: - Tính vật lý: TNTT được ghi chép cố định trên một vật mang tin, có thể là giấy, băng từ, đĩa từ, thiết bị lưu trữ kỹ thuật số,… - Tính giá trị: TNTT là kết quả hoạt động trí tuệ của nhân loại, nó cung cấp cho người sử dụng giá trị khoa học và giá trị thực tiễn của thời đại, của đất nước. Nguồn TNTT nếu được sử dụng một cách hợp lý sẽ có tác động thúc đẩy mạnh mẽ các quá trình hoạt động xã hội, kích thích sự sáng tạo của con người. TNTT thư viện có giá trị càng cao khi có nhiều người khai thác và sử dụng nó.
- Tính bền vững: TNTT là tiêu chuẩn hình thành nên thư viện, là cơ sở cho mọi hoạt động của thư viện, nếu không có TNTT thì thư viện không tồn tại được trong xã hội. - Tính chia sẻ, hợp tác: TNTT thư viện cung cấp cho người sử dụng rất nhiều thông tin, tin tức, dữ liệu không chỉ hạn chế trong khuôn khổ một cơ quan thông tin, thư viện đó mà còn thực hiện được nguyên lý chia sẻ, hợp tác với nhiều cơ quan thông tin, thư viện khác nhau. Nguyên lý chia sẻ, hợp tác này được thực hiện dựa trên sự tồn tại của các mạng nhằm thực hiện trao đổi thông tin giữa các cơ quan thông tin, thư viện với nhau. - Tính truy cập: TNTT thư viện không bị hạn chế về không gian và thời gian, người sử dụng có thể truy cập tại chỗ hoặc từ xa; cùng một thời điểm nhiều Trần Đức Tịnh – Khoa học Thông tin Thư viện 9 người có thể truy cập cùng một lúc trong điều kiện có sử dụng đường truyền mạng.
- Tính mở: TNTT thư viện luôn luôn được bổ sung và cập nhật những thông tin mới nhất, đầy đủ nhất.3 Các loại nguồn TNTT Nguồn TNTT của thư viện được phân theo các thể loại sau: Nguồn TNTT truyền thống: Là tất cả các loại sách giáo khoa, giáo trình, sách tham khảo, các loại báo, tạp chí,… được xuất bản dưới dạng xuất bản phẩm in ấn. Đây là dạng TNTT truyền thống và phổ biến nhất tại các thư viện cho đến thời điểm này. Bên cạnh các xuất bản phẩm được in ấn tại các nhà xuất bản, tài liệu giấy tại các thư viện hiện nay còn có nguồn tài liệu nội sinh, đó là kết quả hoạt động, nghiên cứu khoa học, giảng dạy, học tập của từng trường như là: các luận văn, luận án, các công trình nghiên cứu khoa học, các bài giảng,… được lưu trữ và sử dụng dưới dạng giấy. Ưu điểm của nguồn TNTT truyền thống - Thuận tiện cho việc đọc: việc đọc sách không phụ thuộc bất kỳ các thiết bị phần cứng và phần mềm hay các thiết bị điện tử nào, người đọc có thể sử dụng bất cứ khi nào, bất cứ đâu.
Đây cũng là loại hình tài liệu được nhiều người ưa thích mặc dù tài liệu điện tử cũng có rất nhiều ưu điểm. - Nội dung của nguồn TNTT truyền thống rất phong phú và đa dạng bao gồm tất cả các lĩnh vực tri thức. - Tài liệu truyền thống có nội dung đáng tin cậy. Thông thường việc xuất bản một tài liệu truyền thống thường được qua kiểm định nên tài liệu truyền thống thường đáng tin cậy.
- Vấn đề bảo quản, bảo mật thông tin tài liệu giấy sẽ thuận tiện và dễ dàng hơn tài liệu điện tử vì khả năng nhân bản, sao chép và không yêu cầu kỹ thuật phức tạp như tài liệu điện tử. Nhược điểm của nguồn TNTT truyền thống - Một trong những nhược điểm của TNTT truyền thống hiện nay đang đem lại khó khăn thách thức lớn cho các thư viện hiện nay là chiếm nhiều diện tích kho. Số lượng tài liệu truyền thống ngày càng nhiều qua thời gian, trong khi đó diện tích kho các thư viện không thể mở rộng thêm. Trần Đức Tịnh – Khoa học Thông tin Thư viện 10 - Đối với tài liệu truyền thống, mỗi bản chỉ phục vụ cho một người trong từng thời điểm nên gặp hạn chế trong việc phục vụ NDT.
Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu sử dụng của NDT, thư viện cần bổ sung nhiều bản để phục vụ cho nhiều người cùng một lúc, trong khi nguồn kinh phí có giới hạn sẽ làm hạn chế số lượng nguồn TNTT. - Giá thành của TNTT truyền thống thường cao hơn so với tài liệu điện tử. Chi phí về vật chất, phân phối đều cao hơn. Việc xuất bản còn lệ thuộc vào nhà xuất bản.
Tốn kinh phí cho khâu in ấn, vận chuyển và lưu trữ. Do đó giá thành cao hơn tài nguyên điện tử. Nguồn TNTT điện tử Cùng với sự phát triển của ngành công nghệ thông tin, nguồn TNTT điện tử ngày càng phát triển. Sự ra đời của nguồn TNTT điện tử đã làm cho hoạt động của các thư viện có nhiều thay đổi, nhất là trong việc giảm thiểu không gian của kho sách.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về TNTT điện tử. Thư viện Quốc hội Mỹ định nghĩa TNTT điện tử như sau: TNTT điện tử là bất cứ tài liệu nào đã được mã hóa và sẵn sàng cho việc truy cập thông qua sử dụng máy tính. Theo tác giả Nguyễn Viết Nghĩa, nguồn TNTT điện tử bao gồm các tài liệu như sách điện tử, báo điện tử, cơ sở dữ liệu và các phần mềm, các chương trình chạy trên máy tính, các file multimedia, các trang web,… tức là tất cả những gì có thể đọc được, truy cập được thông qua máy tính hay mạng máy tính điện tử. [31] Ngoài ra, có thể hiểu nguồn TNTT điện tử là những tài liệu được cung cấp qua việc truy cập bằng cách sử dụng máy tính hoặc các thiết bị đa phương tiện.
Nguồn TNTT điện tử bao gồm các dữ liệu điện tử được truy cập từ xa hoặc truy cập trực tiếp. Truy cập từ xa là sử dụng nguồn tài liệu điện tử thông qua hệ thống máy tính. Truy cập trực tiếp là sử dụng nguồn tài liệu điện tử thông qua thiết bị máy tính hoặc thiết bị phụ trợ máy tính như là: băng đĩa, ổ cứng, usb, thiết bị lưu trữ,. - Đĩa quang CD và CD-ROM: là lọai đĩa quang, thường được làm bằng chất dẻo.
Dùng phương pháp ghi quang học để lưu trữ thông tin ở các dạng khác nhau như hình ảnh, âm thanh, văn bản. Các dạng thông tin này sẽ được hiển thị thông qua máy tính có đầu đọc đĩa quang hoặc thông qua đầu đọc và màn hình. Các loại Trần Đức Tịnh – Khoa học Thông tin Thư viện 11 CD và CD-ROM trong thư viện hiện nay thường là các CD, CD-ROM học tiếng Anh kèm theo sách, lưu các luận án, luận văn, khóa luận, kết quả nghiên cứu khoa học,… - Sách điện tử: là phiên bản điện tử của sách in được đọc trên máy tính hoặc các thiết bị chuyên dụng. Sách điện tử có thể đọc bằng nhiều cách như tải xuống máy tính để đọc, đọc trực tuyến trên web hoặc các thiết bị chuyên dụng.
- Tạp chí điện tử: Cũng giống như sách điện tử, tạp chí điện tử là phiên bản điện tử của tạp chí in nhưng tạp chí điện tử dễ dàng truy cập và tìm kiếm. - Cơ sở dữ liệu: là tập hợp các bản ghi hoặc tệp tin có quan hệ logic với nhau và được lưu trữ trên bộ nhớ của máy tính. Cơ sở dữ liệu có thể là cơ sở dữ liệu cung cấp toàn văn hoặc tóm tắt về tài liệu hay các dữ liệu thư mục. - Các bộ sưu tập số: các thư viện thường xây dựng cho mình những bộ sưu tập riêng thông qua số hóa hoặc thu thập từ các nguồn khác nhau.