CHƯƠNG 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TÁC PHẨM “ PHÊ PHÁN NĂNG LỰC PHÁN ĐOÁN” 1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ XÃ HỘI 1. Điều kiện kinh tế - chính trị, khoa học và văn hóa Nước Đức vào cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX vẫn còn là một quốc gia phong kiến điển hình, với 360 tiểu vương quốc tự lập trong một liên bang Đức chỉ còn là hình thức, lạc hậu về kinh tế và chính trị. Thủ công nghiệp, công nghiệp, nông nghiệp bị đình đốn.
Triều đình vua Phổ Phriđrich Vin Hem vẫn tăng cường quyền lực duy trì chế độ quân chủ, cản trở đất nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa. Cả đất nước bao trùm bầu không khí bất bình của đông đảo quần chúng. Nói về thời kì lịch sử đó, Ăngghen đã nói như sau “Không một ai cảm thấy mình dễ chịu. Thủ công nghiệp, thương nghiệp, công nghiệp và nông nghiệp trong nước đều bị giảm tới mức thấp nhất.
Nông dân, người làm nghề thủ công, chủ xưởng chịu hai tầng đau khổ vì chính sách ăn bám và vì tình hình làm ăn khó khăn. Giai cấp quý tộc và các ông hoàng thấy rằng mặc dù chúng đã bóp nặn đến cùng những thần dân của chúng nhưng số thu của chúng khó mà đua kịp số chi ngày càng tăng lên. Mọi việc đều bi đát và cả nước đều công phẫn. Không có giáo dục, không có những phương tiện tác động đến ý thức quần chúng, không có tự do báo chí, không có dư luận xã hội, không có cả đến sự buôn bán nhỏ nào tới các nước khác.
Không có gì cả ngoài sự đê tiện và ích kỉ. Tinh thần ham lợi thấp kém, hèn hạ thảm hại thấm nhuần trong toàn dân. Tất cả đều hư nát, lung lay sắp sửa đổ và cũng không thể hy vọng được một sự thay đổi tốt, vì rằng trong dân tộc không có một lực Luan van 7 lượng nào đủ sức để có thể dọn đi được cái tử thi đã rữa của cái chế độ lỗi thời ấy”[2]. Trong khi đó ở nước Pháp đã tiến hành cuộc cách mạng tư sản, ở nước Anh thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp làm rung chuyển châu Âu, đưa châu Âu bước vào nền văn minh công nghiệp.
Tấm gương của các nước Tây Âu đã thức tỉnh tinh thần cách mạng của giai cấp tư sản Đức và những bộ phận tiến bộ khác của xã hội Đức. Nhưng vì giai cấp tư sản Đức và những lực lượng tiến bộ khác nằm rải rác ở những vương quốc nhỏ tách rời nhau, nhỏ bé về số lượng, yếu kém về kinh tế và chính trị nên không thể tiến hành cách mạng tư sản trong thực tiễn, mà chỉ tiến hành cách mạng về phương diện tư tưởng. Họ muốn thỏa hiệp với tầng lớp phong kiến quý tộc Phổ, giữ lập trường cải lương trong việc giải quyết những vấn đề phát triển đất nước. Về kinh tế, giai cấp tư sản Đức chủ trương ưu tiên phát triển ngành thương mại, thủ công nghiệp và trong sản xuất theo lối công trường thủ công (những xí nghiệp lớn tư bản chủ nghĩa) ở Đức hầu như chưa có vào nửa cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX) bắt buộc phải phục vụ cho bọn phong kiến đang thống trị ở Đức lúc bấy giờ.
Trong khi thị trường bên trong phát triển còn rất yếu, và việc buôn bán trên thị trường còn rất hạn chế thì khách hàng chủ yếu là tầng lớp thống trị và số đông quan lại. Vô hình chung, giai cấp tư sản trong mỗi nhà nước Đức nhỏ ấy đã bị ràng buộc vào những khách hàng ấy. Mác nói rằng: “Nếu nước Đức đi theo sự phát triển của những dân tộc hiện đại chỉ bằng những hoạt động tư tưởng trừu tượng, không tham gia tích cực vào những cuộc chiến đấu thực sự của sự phát triển đó, thì mặt khác, Đức phải chịu đựng nỗi đau khổ mà lại không được cùng hưởng những nỗi vui sướng và sự thỏa mãn bộ phận của sự phát triển ấy”[ 18, 424]. Ám chỉ những nhà tư tưởng của giai cấp tư sản Đức, Mác cho rằng, cái mà các dân tộc khác đã làm trong thực tiễn thì người Đức chỉ có suy nghĩ về nó Luan van 8 mà thôi.
Điều đó đã phản ánh một cách sâu sắc những mâu thuẫn trong sự phát triển kinh tế và chính trị của nước Đức nửa cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX. Nền kinh tế chủ yếu ở trình độ thủ công lạc hậu, những di tích của chế độ nông nô, phường hội, chuyên chế phản động đều là những lực cản kìm hãm sự phát triển lên tư bản chủ nghĩa của Đức. Ngoài ra, nước Đức còn chịu sự tác động của những mối liên hệ từ bên ngoài làm cho nước Đức không có điều kiện để phát triển thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa trong lòng chế độ phong kiến và làm cho nước Đức rơi vào tình trạng cực kì bi đát về kinh tế – chính trị – xã hội. Những biến chuyển kinh tế dẫn đến sự thay đổi về phân bố lực lượng giai cấp trong xã hội.
Giai cấp quý tộc phong kiến vẫn giữ địa vị thống trị trong bộ máy nhà nước và ngoan cố tăng cường quyền lực của chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến. Do đó, tình trạng đất nước bị chia cắt với quyền lực vô hạn của các tiểu vương quốc là một trở ngại lớn đối với sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa. Do sự chuyển biến về kinh tế và chính trị, những mâu thuẫn cơ bản của xã hội Đức ngày càng bộc lộ rõ. Bước vào giai đoạn cuối của chế độ phong kiến, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với chế độ quân chủ chuyên chế và mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân cùng đông đảo quần chúng nhân dân lao động với giai cấp quý tộc phong kiến càng trở nên sâu sắc.
Điều đó phản ánh mâu thuẫn giữa sức sản xuất tư bản chủ nghĩa ngày càng phát triển với quan hệ sản xuất phong kiến lạc hậu đang kìm hãm sức sản xuất. Về mặt văn hóa, có thể nói các cuộc cách mạng xã hội thế kỉ XVII – XVIII mở đường cho sự phát triển các tư tưởng xã hội tiến bộ. Hầu hết các đại biểu của nó như I. Kant, Hêghen… đều xuất thân từ những tầng lớp thượng lưu trong xã hội.
Nhận thấy sự trì trệ của xã hội Đức phong kiến thời đó, được sự cổ vũ của giai cấp tư sản nhiều nước nhất là cách mạng tư sản Luan van 9 Pháp (1789 – 1794), họ thể hiện nguyện vọng tiến bộ của giai cấp tư sản đấu tranh vì một trật tự xã hội mới ở Đức, nhằm đem lại sự phồn thịnh và thống nhất nước Đức. Nhưng khác với giai cấp tư sản Pháp vốn triệt để cách mạng, giai cấp tư sản Đức ngay từ đầu đã muốn thỏa hiệp với tầng lớp phong kiến quý tộc Phổ đang thống trị thời đó, giữ lập trường cải lương trong việc giải quyết những vấn đề phát triển đất nước. Phản ánh sự nhu nhược đó của giai cấp tư sản, bất chấp phương pháp biện chứng của mình khẳng định sự phát triển tất yếu của hiện thực, vẫn ca ngợi, tô vẽ cho nhà nước Phổ phong kiến thối nát, với những bất công và tệ nạn xã hội của nó. Và nói chung, trong thế giới quan của các nhà triết học cổ điển Đức đã thể hiện khá rõ mâu thuẫn về tư tưởng giữa tính cách mạng và khoa học với sự bảo thủ, cải lương về lập trường chính trị - xã hội.
Nhưng điều đó không làm lu mờ sứ mạng lịch sử mà triết học cổ điển Đức thực hiện là đem lại một cách nhìn mới về thực tiễn xã hội và tiến trình lịch sử nhân loại. Hầu hết những nhà lý luận của giai cấp tư sản Đức là những nhà tư tưởng cổ điển Đức và I. Kant cũng thuộc một trong số những đại biểu đó. Người ta biết rằng, những người Đức tiên tiến đã rất phấn khởi chào đón cuộc cách mạng Pháp năm 1789.
Sinh viên trường đại học Tubingơ (trong số này có cả Hêghen) đã trồng cây Tự do. Sinlơ đã dịch bài Mácxâye ra tiếng Đức. Đến khi cách mạng tư sản Pháp đưa Lui XVI lên đoạn đầu đài, dựng lên chính quyền của những người Giacôbanh, thì những người tư sản Đức lúc đầu là những người bạn đầy nhiệt tình của cách mạng, bây giờ lại trở thành kẻ thù tàn nhẫn của nó. Một bộ phận quan trọng của giai cấp tư sản Đức cùng với giai cấp quý tộc rất tức giận về những sự “khủng khiếp” của cách mạng, nghĩa là sự chuyên chính Giacôbanh, mặc dù họ vẫn tha thiết đến những cải cách ở trong nước họ.
Giai cấp tư sản Đức không thống nhất do nước Đức bị chia xẻ ra làm Luan van 10 nhiều mảnh, bản thân giai cấp tư sản là một giai cấp yếu hèn và nhút nhát. Nó muốn nước Đức cũng áp dụng những cải cách tư sản đã được thực hiện ở bên bờ sông Ranh nhưng lại sẵn sàng thỏa mãn ngay với những cải cách nửa vời mà những đại gia sáng suốt nhất của tầng lớp quý tộc đã bắt đầu thi hành trong một vài nước Đức riêng biệt. Những nhà lý luận của giai cấp tư sản Đức vẫn đặt hi vọng của họ vào sự tiến triển tự phát của các biến cố và sáng kiến của “những tầng lớp trên” trong xã hội. Điều đó đẩy tới sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và sự thống nhất nước Đức một cách khách quan.
Nhưng lý luận Đức của cách mạng Pháp lại khác những quan điểm của những nhà Khai sáng Pháp bởi vì: Những triết gia Đức khi phản ánh quá trình phát triển của cách mạng Pháp trong quan điểm của họ, lại coi rằng những kết quả chính trị thực tiễn và luật pháp mà cuộc cách mạng 1789 – 1794 đã giành được, về căn bản không thực hiện được ở Đức. Ví dụ như trong triết học I. Kant thì nền cộng hòa chỉ là một định đề của lí tính thực tiễn, chỉ là một nghĩa vụ mà những người có thiện ý phải noi theo, nhưng trên thực tế thì nền cộng hòa lại là lý tưởng không thể đạt được. Cách giải thích cuộc cách mạng tư sản Pháp như vậy đã phản ánh một sự yếu ớt thực sự về kinh tế và chính trị của nước Đức, đã phản ánh sự phát triển độc đáo của giai cấp đó.
Không chỉ những quan điểm chính trị xã hội mà cả những quan điểm triết học của những nhà tư tưởng của giai cấp tư sản Đức cuối thế kỉ XVIII cũng đã khác về căn bản với những quan điểm xã hội chính trị và về căn bản với những nhà lý luận của giai cấp tư sản cách mạng Pháp.