phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến gồm 3 chojơng: Choong 1: Nhiing van dé chung về nhu cầu tin của ngojời dùng tin tại Trung tâm Thông tin - Thơ viện troiờng Đại học Kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên. ChoJơng 2: Thực trạng nhu cầu tin của ngojời dòng tin tại Trung tâm Thông tin Thơi viện Trojong Đại học Kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên. Choong 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả đáp ứng nhu cầu tin tại Trung tam Thong tin - Tho, vién Trojong Đại học Kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên. CHG|JƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐÈ CHUNG VÈ NHU CÀU TIN CỦA NGGỊIỜI DUNG TIN TAI TRUNG TAM THONG TIN - THƠ] VIỆN TRƠỊỜNG ĐẠI HQC KY THUAT CONG NGHIEP THAI NGUYEN.
Khái niệm“Nhu cầu tin”, “Ngơjời ding tin” 1. Khái niệm “Nhu cầu tin” Cho tới nay choJa có một định nghĩa chung nhất cho khái niệm nhu cầu tin. Tuy nhiên nhiều tài liệu đã đề cập đến khái niệm “Nhu cầu”. Các nhà khoa học cho rang “Nhu cau” doge coi là một hiện toJợng tâm lý của con ngojời; Là đòi hoi, mong muốn, nguyện vọng của con nggiời về vật chất và tinh thần đề tồn tại và phát triển.
Tòy theo trình độ nhận thức, môi trojờng sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi ngơjời có những nhu cầu khác nhau. Nhu cầu chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con ngojời nói riêng. Nhu cầu đojợc nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu và sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống. Theo quan điểm của tâm lý học Mácxít, có thê coi nhu cầu tin là đòi hỏi khách quan của con ngơiời (cá nhân, nhóm, xã hội), đối với việc tiếp cận với một đối tojong nhất định (nhọ thông tin/tin), nhằm duy trì hoạt động sống của con ngơjời.
Khi đòi hỏi về thông tin của con ngojời trở nên cấp thiết thì nhu cầu thông tin hay nhu cầu tin xuất hiện. Các nhà Tâm lý học Mác xít cho rằng có 2 loại nhu cầu: + Nhu cầu vật chat gắn liền với sự tồn tại và phát triển của con ngojời nho nhu câu ăn, mặc, ở và đi lại. + Nhu cầu tỉnh thần gắn liền với các hoạt động nhơi: nhu cầu nhận thức, nhu cầu hiểu biết, nhu cầu giao loøu; nhu cầu hoạt động xã hội.Nhoơi vậy, “Nhu cau tin” là một dạng của nhu cầu bậc cao - nhu cầu tinh thần của con ngơjời nhằm duy trì hoạt động sống và phát triển và thay đôi tùy theo mục đích của mỗi hoạt động. Nhu cầu tin của ngojời dùng tin hình thành và phát triển dojới sự tác động cửa xu thế phát triển của thế giới; Đojờng lỗi phát triển kinh tế - xã hội của từng tổ chức/quốc gia; Sự phát triển khoa học và công nghệ; Sự phát triển văn hóa và giáo 10 dục.
Đồng thời nhu cầu tin của con ngojời cũng chịu tác động của nghề nghiệp; Trình độ; Tâm lý; Môi troJờng sống và làm việc của mỗi ngojời ding tin. Nhu cầu là một thuộc tính quan trọng của nhân cách con ngojời. Trong mỗi ngơjời và trong hoàn cảnh, môi trojờng nhất định luôn tồn tại một hệ thống các nhu cầu về vật chất và tinh thần. Các nhu cầu này có quan hệ biện chứng với nhau.
Các nhu cầu này còn ảnh hơjởng tới định holớng cho hành vi hoạt động của con người trong những môi trojờng không gian và thời gian nhất định. Đồng thời cũng ảnh hojởng bởi sự chi phối từ những thuộc tính tâm lý khác của con ngojời. Nhu cau tin, nay sinh trong quá trình hoạt động của con ngojời dé phục vụ sự tồn tại và phát triển cuộc sống của họ. Nhu cầu tin nằm trong hệ thống nhu cầu cả về nhu cầu thông tin phục vụ tinh thần và phục vụ nhu cầu vật chất.
Vì cả hai vấn đề vật chất và tinh than đều cần có thông tin. Thông tin để học tập và nghiên cứu của ngojời dùng tin trong môi trojờng đại học là thuộc nhu cầu tinh than. Tom lai, nhu cầu tin là dạng nhu cầu tỉnh thần đặc biệt, mang tính khách quan, chịu sự tác động trực tiếp của các nhân tô khách quan và chủ quan.Nhu cầu tin nảy sinh trong quá trình thực hiện các loại hoạt động khác nhau của con ngojời. Là cơ sở, mục tiêu và động lực phát triển trong mọi hoạt động của con ngơjời, trong đó có hoạt động thông tin-tho, vién.
Nhu cau tin chính là yếu tố quan trọng tạo nên động cơ của hoạt động thông tin-thoi viện, 1a co sở, mục đích hoạt động thông tin-thơi viện.Theo tác gia Tran Thi Minh Nguyét “Nhu cầu tin nảy sinh trong quá trình thực hiện các loại hoạt động khác nhau của con ngời. Thông tin về đối tợng hoạt động, về môi tròng và phơng tiện hoạt động là yếu tỐ quan trọng tạo nên hiệu quá hoạt động của con ngời. Bất kỳ hoạt động nào muốn đạt kết qua tốt đẹp cũng cần phải có thông tin đây đủ. Hoạt động càng phức tạp nhu câu đợc cung cấp thông tin càng cao” (19, tr.
Nhu cầu tin có vai trò quan trọng, là nguồn gốc của hoạt động thông tin — tho, viện. Nhu cầu tin là mục đích để tồn tại và phát triển của bất cứ cơ quan thông tin — thơi viện nào. Vì vậy, nắm bắt nhu cầu tin là yếu tố quan trọng hàng đầu để đảm bảo triển khai hoạt động thông tin — thoi viện nói chung và của các cơ quan TT-TV đại 11 học nói riêng phát triển và hiệu quả. Từ nghiên cứu trên, tác giả đơỊa ra định nghĩa nhơi sau“Nhu cau tin của ngời dòng tin trong hoạt động thông tin th viện của môi tròng giáo dục đại học chính là nhu cầu đợc nảy sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo quản lý, giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học của cán bộ và sinh viên nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị cua minh”.
Khái niệm “Ngời dòng tin ”trong môi tròng đại học Ngơjời dùng tin là một trong bốn yếu tô cấu thành của một cơ quan thông tin, thơi viện. NDT là đối tơiợng hojớng đến của hoạt động thông tin — tho, vién. Tiong cdc trolòng đại học, ngơjời dùng tin vừa là “khách hàng” của các dịch vụ thông t- thơi viện nhoạng đồng thời chính họ cũng là ngoời sản sinh ra thông tin khoa học mớđề bổ sung cho nguồn tài nguyên thông tin của cộng đồng. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về NDT: Theo Từ điển Khoa học Thông tin và Thơi viện trực tuyến (The Online Dictionary for Library and Information Science - ODLIS), NDT là “ngoi sw dung các nguôn và dịch vụ của một th viện, không nhất thiết phải là ngời đăng ký mợn ”(38).
Tác giả Aina cho rằng thuật ngữ "ngojời dùng tin" bao gồm tất cả những ngơjời tận dụng các dịch vụ đơjợc cung cấp bởi một thoi viện [37.Isaac Echezonam Anyira. The Anatomy of Library Users in the 21st Century // Library Philosophy and Practice. Thuat ngữ này bao gồm các thuật ngữ khác nhau nhơi khách hàng, ngojời sử dụng thông tin, ngojdi tìm kiếm thông tin, ngojời tiêu dòng, độc giả. những thuật ngữ này có thể đojợc sử dụng hoán đổi cho nhau, bởi vì tất cả đều sử dụng cho những ngơjời tìm kiếm dịch vụ của thơ viện.
Theo các định nghĩa trên, thuật ngữ “ngơjời dòng tin” đơkợc hiểu với ý nghĩa rộng, là ngojời sử dụng các nguồn tài liệu, thông tin nói chung chứ không phải chỉ là 12 ngơjời có nhu cầu về thông tin và sử dụng các sản phẩm và dịch vụ thông tin — tho, viện để đáp ứng nhu cầu thông tin của mình. Tóm lại, ngojời dòng tin là những ngoyời cần thông tin và sử dụng thông tin để thỏa mãn nhu cầu hoạt động trong đời sống xã hội của mình. Họ là chủ thể có nhu cầu tin. Mọi cá thê trong xã hội đều chính là ngơjời dùng tin và có thể trở thành NDT trong các cơ quan TT-TV.
Ngơjời dùng tin và nhu cầu tin luôn luôn bị chỉ phối bởi nhiều yếu tố tác động trong các mối quan hệ của xã hội. Chính vì vậy, nhu cầu tin của ngoiời dùng tin luôn luôn biến đổi. Điều đó có nghĩa là hoạt động thông tin thơi viện muốn tồn tại và phát triển phải quan tâm tới nhu cầu tin của ngojời dòng tin. Trong môi trơjiờng giáo dục đại học, ngơjời dòng tin cd vai tro quan trong, A nhân tố điều chỉnh, định hơtớng cho hoạt động thông tin thoi viện.
Ngơjời dùng fn trong môi trojòng giáo dục đại học chính là cán bộ lãnh đạo, quản lý; cán bộ giảng day và nghiên cứu. Một lực lojợng lớn ngơiời dùng tin trong môi trơjờng giáo duc dit học nữa chính là sinh viện, học viên cao học và nghiên cứu sinh. Nếu các nhóm ngơjời dùng tin này dojge tojong tác thojờng xuyên hai chiều với cdc co quan thirgtin — tho, vién thi sé góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, học tập và công tác quản lý của nhà trojờng. Ý kiến đánh giá của ngơjời dùng tin trong cdc trojong dai hoc, cao dang trong quá trình sử dụng thông tinsẽ góp phần quan trọng trong việc điều chỉnh hoạt động thông tin — tho, vién theo hojớng phù hợp và hiệu quả với nhu cầu thông tin của họ.
Vai trò của việc nắm bắt nhu cầu tin của ngơjời dùng tin 1. Điều chỉnh hoạt động của cơ quan thông tin - th viện NDT chính là yếu tố không thể thiếu đối với hoạt động thông tin - thơ viện. Không có ngợiời dùng tin sẽ không có hoạt động thông tin — thơi viện. NDT có vaitrò rat lớn, quyết định đến hiệu quả hoạt động thông tin - thơi viện.
Chính NDT h ngơjời quyết định, định hojớng các hoạt động của cơ quan thông tin — thơi viện † khâu bổ sung thông tin, tài liệu đến các khâu cuối cùng là phục vụ NDT. Thỏa mãn 13 NCT cho NDT luôn là mục tiêu hotớng đến của bất cứ cơ quan thông tin — thơi viện nào. Mục đích cuối cùng của hoạt động thông tin — thoỊ viện là thoả mãn tối đa nhu cầu tin của ngojời dùng tin. Với ý nghĩa nhơi vậy, việc nắm bắt đoJợc NCT của NDT trong hoạt động thông tin — thoỊ viện luôn là vấn đề cấp thiết.
Nắm bắt dojo nhu cầu tin của NDT trong mỗi cơ quan thông tin — tho, vién cy thể có vai trò quan trọng, nhằm điều chỉnh kịp thời mọi hoạt động của đơn vị cho phò hợp với ngojời dùng tin trong từng thời điểm. Mức độ thỏa mãn nhu cầu tìn của NDT phụ thuộc vào mức độ nam bắt đơlợc nhu cầu, yêu cầu của ngơjời dùng tin đến đâu của mỗi cơ quan TT- TV.