chương 1 Luật Thư viện Việt Nam (2019) quy định về chức năng, nhiệm vụ của thư viện như sau: 1. Xây dựng, xử lý, lưu giữ, bảo quản, kết nối và phát triển tài nguyên thông tin phù hợp với người sử dụng thư viện. Tổ chức sử dụng chung tài nguyên thông tin, sản phẩm thông tin và dịch vụ thư viện; truyền bá tri thức, giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại; phục vụ nhu cầu nghiên cứu, học tập, giải trí; góp phần hình thành và phát triển kiến thức, kỹ năng, phâm chất, năng lực của người sử dụng thư viện. Ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ, hiện đại hóa thư viện.
Phát triển văn hóa đọc và góp phần tạo môi trường học tập suốt đời cho Nhân dân, xây dựng xã hội học tập, nâng cao dân trí, xây dựng con người Việt Nam toàn điện. Theo Liên đoàn quốc tế các Hiệp hội thư viện (IFLA), chức nang của thư viện hiện đại là bảo tồn di sản văn hóa nhân loại, thực hiện giáo dục xã hội, truyền tải thông tin khoa học và phát triển nguồn lực trí tuệ. Các chức năng của thư viện được thư viện học hiện đại nhắn mạnh bao gồm duy trì sự công băng thông tin xã hội, thu hẹp khoảng cách số, thúc day sự khoan dung của xã hội và thúc day đọc sách trong xã hội. Thư viện có các chức năng chính như: bảo tồn di sản văn hóa nhân loại, triển khai giáo dục xã hội, cung cấp tài nguyên thông tin, khai thác tài nguyên trí tuệ.
Để làm rõ các chức năng phục vụ mà thư viện công cộng phải đảm nhận, nâng cao mức độ phục vụ của thư viện công cộng, điều 3, điều 11, điều 27 đến điều 32 Luật thư viện công cộng Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định như sau: Thứ nhất, thư viện công cộng do chính phủ thành lập phải thiết lập khu vực đọc sách cho thiếu niên nhi đông, bô trí nhân viên chuyên nghiệp triên khai việc hướng dan doc và hoạt 16 động giáo duc xã hội cho trẻ vi thành niên. Đối với các địa phương có điều kiện, có thê thành lập các thư viện riêng cho thiếu nhi. Thứ hai, các thư viện công cộng phải thực hiện miễn phí triển khai các hoạt động như: tra cứu tin tức văn hiến, mượn đọc, mở cửa địa điểm không gian công cộng, tọa đàm công ich, đào tạo, triển lãm v,v., thúc đây, hướng dẫn toàn dân đọc là một nhiệm vụ quan trọng. Thứ ba, thư viện công cộng phải mở cửa vào các ngày lễ tết và ngày nghỉ, cần được thông báo tới xã hội nội dung phục vụ, giờ mở cửa, nội quy mượn của thư viện.
Thứ tư, thư viện công cộng cần cải thiện điều kiện phục vụ, nâng cao dịch vụ, thông báo định kỳ về tình hình phát triển của dịch vụ, lắng nghe ý kiến của độc giả, chấp nhận sự giám sát của xã hội. Thứ năm, thư viện công cộng do chính phủ thành lập cần cung cấp các dịch vụ cho các đối tượng đặc biệt, dịch vụ lưu động, dịch vụ tự phục vụ, dịch vụ kỹ thuật SỐ, V. Như vậy có thê hiểu về thực chat thư viện là bộ phận cấu thành của hệ thống trao đổi thông tin xã hội; là tô chức khoa học, văn hóa, giáo dục thu thập, xử lý, bảo tồn, truyền bá và khai thác nghiên cứu sử dụng các nguồn thông tin văn hiến một cách khoa học đáp ứng nhu cầu của cộng đồng. Dịch vụ công Tùy theo cách tiếp cận khác nhau, mà người ta có thé đưa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau về dịch vụ công.
Chăng hạn như: Theo từ điển Petit Larousse: “Dịch vụ công là hoạt động vì lợi ích chung, do một cơ quan Nhà nước hoặc tư nhân đảm nhận” Theo Wikipedia: “Dịch vụ công là một dịch vụ nhằm phục vụ tất cả các thành viên của cộng đồng. Nó thường được chính phủ cung cấp cho những người sống trong phạm vi quyền hạn, trực tiếp hoặc bằng cách cung cấp tài chính cho các dịch vụ.” Theo Chu Văn Thành (2007), Dich vu công — đổi mới quản lý và tổ chức cung ứng ở Việt Nam hiện nay “Dịch vụ công là những dịch vụ đáp ứng các nhu cầu cơ bản, thiết yếu chung của người dân và cộng đồng, đảm bảo ổn định và công bang xã hội do Nhà nước chịu trách nhiệm, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận”[4]. Cho đến nay, các nhà nghiên cứu tại Trung Quốc vẫn chưa thống nhất về khái niệm dịch vụ công. Phùng Vân Đình (2004) cho rằng dịch vụ công là một khái niệm 17 rất rộng.
Theo nghĩa rộng, dịch vụ công là thuật ngữ chung của các dịch vụ trực tiếp và gián tiếp do khu vực công cung cấp, cụ thể bao gồm nghiên cứu khoa học, cơ sở hạ tầng, hệ thống giao thông công cộng, bảo vệ môi trường, quy hoạch đô thị, phúc lợi xã hội, dịch vụ cảnh sát, giáo dục công cộng, cứu trợ thiên tai và hỏa hoạn, dịch vụ thông tin, v., có cả dịch vụ công vật chất và dịch vụ công phi vật chất. [21] Lí Quân Bằng (2005) chỉ ra rằng dịch vụ công là thuật ngữ chung cho các sản phẩm và dịch vụ do chính phủ cung cấp nhằm đáp ứng nhu cầu công cộng của xã hội. Nó là sản phẩm xã hội do các cơ quan chính phủ sản xuất bởi khu vực công, chủ yếu là, nhằm tiêu dùng chung và hưởng thụ bình dang trong toàn xã hội. Ông cho rằng có hai điểm cơ bản trong cách hiểu khái niệm dịch vụ công: một là đáp ứng nhu cầu công cộng của xã hội, hai là công dân được hưởng thụ bình đăng.
[10] Trần Xương Thịnh và Thái Dược Châu (2007) cho rằng “cái gọi là dịch vụ công thường đề cập đến các dịch vụ được thiết lập trên cơ sở đồng thuận xã hội nhất định và tất cả công dân của một quốc gia phải được hưởng một cách công bằng và phô biến bat ké chủng tộc, thu nhập và chênh lệch địa vị của họ như thé nào”. [44] Mặc dù có những định nghĩa khác nhau về dịch vụ công, nhưng từ các định nghĩa này, ta thấy dịch vụ công có những đặc trưng cơ bản là: Do Nhà nước chịu trách nhiệm trước xã hội về việc trực tiếp cung ứng hoặc ủy nhiệm việc cung ứng. Ngay cả khi chuyên giao dịch vụ này cho tư nhân cung ứng thì Nhà nước vẫn có vai trò điều tiết đặc biệt nhằm đảm bảo sự công bằng trong phân phối các dịch vụ này, khắc phục các khiếm khuyết của thị trường; Là những hoạt động có tính chất xã hội, phục vụ lợi ích chung của cả cộng đồng. Phục vụ trực tiếp cho nhu cầu, lợi ích cơ bản, thiết yếu của người dân Mục tiêu nhằm bảo đảm tính công bằng và hiệu quả trong cung ứng dịch vụ.
Việc trao đổi dịch vụ công thông qua quan hệ thị trường đầy đủ. Thông thường, người sử dụng dịch vụ công không trực tiếp trả tiền, hay nói đúng hơn trả tiền dưới hình thức đóng thuế vào ngân sách nhà nước dé Nhà nước tô chức việc cung ứng một cách đều đặn như một sự "thỏa thuận trước". Nhưng cũng có những dịch vụ mà người sử dụng vẫn phải trả thêm một phần hoặc toàn bộ kinh phí; tuy nhiên, đối với các loại dịch vụ nay, Nhà nước van có trách nhiệm bao đảm việc cung ứng không 18 nhằm vào mục tiêu thu lợi nhuận. Moi người dân (bất kế đóng thuế nhiều hay ít, hoặc không phải đóng thuế) đều có quyền hưởng sự cung ứng dịch vụ công ở một mức độ tối thiểu, với tư cách là đối tượng phục vụ của chính quyên.
Lượng dịch vụ công cộng mà mỗi người tiêu dùng không phụ thuộc vào mức thuế mà người đó đóng góp. Như vậy, dịch vụ công là hoạt động của các cơ quan nha nước trong việc thực thi chức năng quản lý hành chính nhà nước va bảo đảm cung ứng các hàng hóa công cộng phục vụ nhu cầu (loi ích) chung thiết yếu của xã hội. Những vấn đề chung về thư viện 1. Hệ thống mạng lưới thư viện Theo ALA từ điền, mạng lưới thư viện là sự liên kết các cơ quan thư viện — thông tin độc lập với nhau thành một mạng lưới ở những mức độ khác nhau (tập trung hóa toàn bộ, tập trung hóa từng phần).
Mô hình tổ chức mạng lưới thư viện — thông tin được dựa trên các nguyên tắc: nguyên tắc lãnh thé và nguyên tắc ngành doc. Từ những nguyên tắc này dan tới việc hình thành hệ thống thw viện — thông tin khác nhau ở trung tâm như mạng lưới thư viện công cộng Nhà nước, mạng lưới thư viện trường phô thông. Hệ thong thw viện và mang lưới thư viện (library system) được hiểu như nhau là “Một nhóm thư viện độc lập hay tự trị, kết hợp với nhau bằng những thỏa thuận chính thức hay không chính thức dé đạt được mục dich đặc biệt, chăng hạn như hệ thong két hop theo lối hợp tác xã, hay hệ thống kết hợp theo lối liên hợp”. Từ điển này cũng định nghĩa hệ thống và mạng lưới thư viện theo một cách khác: “Một nhóm thư viện được quản tri chung, chăng hạn như hệ thống thư viện hợp nhất hay một thư viện trung ương và những chi nhánh của nó”.
[1] Có thể thấy, mạng lưới thư viện thường gồm 3 hệ thống chính là: hệ thống thư viện công cộng; hệ thống thư viện chuyên ngành va đa ngành; hệ thống thư viện tư nhân. Hệ thống thư viện công cộng là hệ thống thư viện có tài nguyên thông tin tổng hợp thuộc mọi ngành, lĩnh vực, phục vụ mọi tầng lớp nhân dân, giữ vai trò chủ đạo trong phối hợp hoạt động, trao đổi tài liệu với các thư viện khác, do Nhà nước thành lập và bảo đảm điều kiện hoạt động. Hệ thống thư viện chuyên ngành và đa ngành bao gôm thư viện của các cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu, co quan nha nước, 19 lực lượng vũ trang, các tô chức đoàn thé xã hội. Đây là hệ thống thư viện có tài nguyên thông tin đặc thù, đối tượng phục vụ xác định và chủ yếu do các cơ quan, tổ chức chủ quản chịu trách nhiệm về tổ chức, nhân sự và tài chính.
Hệ thống thư viện tư nhân gồm thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng va thư viện của tổ chức nước ngoài có phục vụ người bản địa. Đây là hệ thống thư viện do tổ chức, cá nhân thành lập tự bảo đảm điều kiện hoạt động, được hưởng một số chính sách khuyến khích của Nhà nước. Các loại hình thư viện: Đặc tính của thư viện được xác định dựa vào sự tương hợp với nhu cầu về tài liệu, thông tin của xã hội mà thư viện có trách nhiệm đáp ứng.