Chương 1, gồm các nội dung giới thiệu vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài và kết cấu luận văn. Cơ sở lý thuyết Tác giả sẽ trình bày cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan, gồm các nội dung: cơ sở lý thuyết, các khái niệm liên quan, lý thuyết kinh tế liên quan, mô hình kinh tế về chi tiêu của hộ gia đình, nghiên cứu thực nghiệm liên quan. Phương pháp nghiên cứu Trong chương 3, tác giả sẽ giới thiệu về quy trình thực hiện nghiên cứu, khung phân tích, phương pháp nghiên cứu, dữ liệu sẽ được sử dụng cho đề tài. 123doc 5 Chương 4.
Kết quả nghiên cứu Nội dung chủ yếu là kết quả thu được dựa trên mô hình và phương pháp nghiên cứu ở Chương 3. Tuy nhiên, trước khi đến với kết quả hồi quy, tác giả thực hiện các thao tác thống kê mô tả nhằm thể hiện những đặc trưng của bộ dữ liệu. Trong phần kết quả hồi quy và thảo luận: các kết quả nghiên cứu sẽ được tóm lược và đối chiếu với các nghiên cứu trước để tìm ra điểm giống và khác nhau bằng hình thức so sánh hoặc xác nhận có điểm mới. Kết luận và kiến nghị Chương 5 tóm lược lại toàn bộ nghiên cứu từ lý do chọn đề tài cho đến phương pháp và thảo luận kết quả của nghiên cứu.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả kiến nghị những giải pháp về mặt chính sách có liên quan trong đề tài. Và sẽ nêu những hạn chế của đề tài, đồng thời đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo. 123doc 6 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT Ở Chương này tác giả sẽ trình bày cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan, gồm các nội dung: các khái niệm liên quan, lý thuyết kinh tế liên quan, mô hình kinh tế về chi tiêu của hộ gia đình, nghiên cứu thực nghiệm liên quan.
Các khái niệm liên quan 2. Giáo dục Theo Shultz (1964), giáo dục cần được hiểu theo 3 khía cạnh: (i) nếu xét ý nghĩa tiêu dùng ở hiện tại, thì giáo dục là thứ hàng hóa tạo sự phấn khích cho người tiêu dùng (từ việc biết thêm kiến thức); (ii) nếu xét ý nghĩa tiêu dùng ở tương lai, thì giáo dục giúp người học có khả năng tiêu thụ thêm nhiều hàng hóa khác trong đời sống; (iii) giáo dục mang ý nghĩa đầu tư, nghĩa là vốn con người hình thành từ quá trình giáo dục giống như vốn vật lực, được sử dụng cho đến khi năng suất biên của nó bằng với chi phí biên sử dụng nó. Gillis và Thomsen (1996), định nghĩa giáo dục chính là các hình thức học hỏi của con người, về cơ bản có ba dạng: (i) hình thức giáo dục chính quy liên quan đến quá trình học tập tại các trường học, viện; (ii) hình thức giáo dục không chính quy liên quan đến các chương trình diễn ra bên ngoài nhà trường với khoảng thời gian ngắn; và (iii) cuối cùng là hình thức học diễn ra ở bất cứ nơi đâu: ở nhà, công sở và ở địa phương. Ở một cách tiếp cận khác, giáo dục được hiểu là hoạt động có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống nhằm tạo ra sức mạnh có tính đa dạng về thể chất và tinh thần của con người, đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Nó còn là con đường hình thành nên những tri thức khoa học về thế giới quan, lý tưởng, đạo đức, thái độ, thẩm mỹ, cơ sở để hình thành nhân sinh quan, phát triển đức, trí, thể, mỹ của từng con người cụ thể. Giáo dục còn có sứ mệnh rèn luyện nhân cách cho từng cá nhân làm cho họ trở thành những chủ thể có kỹ năng và bản lĩnh khi đối diện với những vấn đề đặt ra của thế giới và của bản thân. Họ sẽ hiện diện trong 123doc 7 môi trường sống không chỉ bằng kiến thức, trí nhớ mà còn sự chọn lựa về đạo đức và hệ thống chính trị (Nguyễn Văn Hiến, 2009). Như vậy, nghiên cứu của tác giả sẽ tiếp cận giáo dục với góc độ là hàng hóa tạo sự phấn khích cho người tiêu dùng, hay là động cơ để hộ gia đình gia tăng chi tiêu cho con em mình nhằm mục đích nâng cao trình độ, tìm được việc làm tốt với mức thu nhập tương xứng.
Ở cách tiếp cận này, chi tiêu cho giáo dục mang ý nghĩa đầu tư nhằm gia tăng vốn con người, nhân tố quan trọng quyết định nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của một đất nước. Hộ gia đình Trong nghiên cứu cũng như trong quá trình xây dựng chính sách, hộ gia đình được xem là một đơn vị thống kê dân số dùng để chỉ một tập hợp người có mối quan hệ gắn kết với nhau và mỗi người chỉ có thể thuộc về một và chỉ một hộ gia đình nào đó. Theo báo cáo của Ủy ban châu Âu (2010) về kết quả điều tra chi tiêu cho giáo dục cho rằng hộ gia đình có 04 đặc trưng sau: (i) các thành viên của hộ có chung địa chỉ thường trú, (ii) các loại chi phí đảm bảo cuộc sống được thống nhất bởi các thành viên trong hộ, (iii) ngân sách của hộ được hình thành bởi sự đóng góp từ các thành viên trong hộ, và (iv) các thành viên trong hộ có sự ràng buộc về mối quan hệ huyết thống hoặc quan hệ tình cảm. Theo Tổng cục Thống kê (2014) quy định về hộ trong cuộc điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam, hộ là một hoặc một nhóm người ăn chung, ở chung trong một chỗ từ 6 tháng trở lên trong thời kỳ khảo sát và có chung quỹ thu chi.
Những người được coi là thành viên của hộ phải thỏa mãn đồng thời hai điều kiện sau: (i) cùng ăn, ở chung trong hộ 6 tháng trở lên trong 12 tháng qua; và (ii) có chung quỹ thu chi, nghĩa là mọi khoản thu nhập của thành viên đều được đóng góp vào ngân sách chung của hộ và mọi khoản chi tiêu của họ đều lấy từ ngân sách đó. 123doc 8 Như vậy, nghiên cứu của tác giả sẽ tiếp cận khái niệm hộ gia đình với góc độ là một hoặc một nhóm người ăn chung, ở chung trong một chỗ và có chung quỹ thu chi; thành viên hộ phải là những người cùng ăn, ở chung từ 6 tháng trở lên và có đóng góp vào quỹ thu chi của hộ. Thu nhập của hộ gia đình Theo Tổng cục Thống kê (2014), thu nhập của hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định, bao gồm: (i) thu từ tiền công, tiền lương; (ii) thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản, (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất); (iii) thu từ sản xuất ngành nghề phi nông, lâm nghiệp, thủy sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất); (iv) thu khác được tính vào thu nhập (không tính tiền rút tiết kiệm, bán tài sản, vay thuần túy, thu nợ và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được). Chi tiêu của hộ gia đình cho giáo dục Theo Tổng cục Thống kê (2014), chi tiêu hộ gia đình là tổng số tiền và giá trị hiện vật mà hộ và các thành viên của hộ đã chi cho tiêu dùng trong một thời gian nhất định, bao gồm cả tự sản, tự tiêu về lương thực, thực phẩm, phi lương thực, thực phẩm và các chi tiêu khác (biếu, đóng góp,…).
Các khoản chi tiêu hộ gia đình không bao gồm chi phí sản xuất, thuế sản xuất, gửi tiết kiệm, cho vay, trả nợ và các khoản chi tương tự. Do đó, chi tiêu của hộ gia đình cho giáo dục là tổng số tiền và giá trị hiện vật mà hộ và các thành viên của hộ đã chi cho giáo dục, đào tạo trong một thời gian nhất định. Theo Lassibille (1994) thì chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình gồm những mục cơ bản như sau: (i) các khoản chi được quy ước thành tiền mặt: học phí, phí bảo hiểm, những khoản đóng góp bắt buộc hoặc tự nguyện, (ii) các khoản chi mua những đồ dùng phục vụ trực tiếp cho học tập, (iii) các khoản chi phụ trợ khác: chi phí đi lại của cả người học và người đưa đón, tiền ăn cho người học bán trú, nội trú,… (iv) chi trả lãi vay trong trường hợp hộ gia đình phải vay tiền để chi cho việc học của các thành viên trong hộ. 123doc 9 Theo Ủy ban châu Âu (2010), chi phí cho giáo dục của hộ gia đình gồm: (i) chi phí trực tiếp, như: học phí (học chính khóa, học thêm), chi phí mua đồ dùng, dụng cụ học tập, đồng phục,… (ii) chi phí gián tiếp, như: chi phí ăn uống cho người học bán trú, nội trú, chi phí đi lại, chi phí mua đồ dùng, dụng cụ hỗ trợ việc tự học, chi phí quà tặng vì mục đích học tập cho người ngoài hộ gia đình.
Như vậy, nghiên cứu của tác giả sẽ tiếp cận khái niệm chi tiêu giáo dục của hộ gồm tổng số tiền và giá trị hiện vật mà hộ và các thành viên của hộ đã chi cho giáo dục, đào tạo trong một thời gian nhất định (thời gian khảo sát), bao gồm cả chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp. Các lý thuyết liên quan Các nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình đã sử dụng nhiều lý thuyết khác nhau làm nền tảng cho việc phân tích. Trong đó, ba hướng phân tích chính là: (i) dựa trên lý thuyết về hành vi tiêu dùng, (ii) lý thuyết về sự tác động của thu nhập đến chi tiêu, và (iii) lý thuyết đầu tư cho giáo dục. Lý thuyết về hành vi tiêu dùng Lý thuyết về lựa chọn tiêu dùng được phát triển bởi Mas – Colell và cộng sự (1995) chứng minh rằng quyết định lựa chọn tiêu dùng các loại hàng hóa của người tiêu dùng có tính duy lý.
Khi khả năng ngân sách hộ gia đình có giới hạn buộc người tiêu dùng phải lựa chọn rổ hàng hóa để tối đa mức hữu dụng của mình. Max u (x) với điều kiện p*x ≤ I. Trong đó: x = (x1, x2,…, xn) là rổ hàng hóa tiêu dùng; x1, x2,…, xn là các loại hàng hóa; p = (p1, p2,…, pn) là giá của rổ hàng hóa; p1, p2,…, pn là giá của từng loại hàng hóa trong rổ; I là ngân sách của người tiêu dùng.