Chương 1: BỐI CẢNH VÀ ĐỊNH NGHĨA VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH CÔNG 1.1 Bối cảnh nghiên cứu Ngành giáo dục Việt Nam bị tụt hậu so với khu vực và thế giới dù đầu tư cho ngành này vẫn tăng liên tục, từ 12% lên 20% trong tổng chi ngân sách Nhà nước giai đoạn 1998 - 2010.1 Năm 2011, Bộ Giáo dục - Đào tạo (GD - ĐT) trình dự thảo đề án cải cách giáo dục với kinh phí lên tới 70.000 tỉ đồng, trong đó chi phí cho biên soạn sách giáo khoa (SGK) là 962 tỉ đồng, theo ông Ngô Trần Ái, Tổng Giám đốc Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam (NXBGD). Dự thảo này vấp phải sự phản ứng gay gắt từ xã hội. Dự kiến, tháng 10/2013, đề án đổi mới chương trình sách giáo khoa phổ thông sẽ được trình lên Chính phủ bởi theo Bộ GD - ĐT, “đã đến lúc phải đổi mới căn bản và toàn diện chương trình giáo dục phổ thông”.2 Chương trình SGK hiện tại, triển khai từ năm 2002 và sẽ kết thúc vào năm 2015, được thực hiện theo Nghị quyết số 40/2000/QH10 ban hành ngày 9/12/2000 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông. Theo đó, việc thay mới SGK được triển khai ở lớp 1 và lớp 6 từ năm học 2002-2003, ở lớp 10 từ năm học 2004-2005.
Năm 2016, Bộ GD-ĐT sẽ triển khai chương trình SGK mới. Xác định mục tiêu “xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới”3 nhưng cách làm của Việt Nam lại khá đặc thù với một bộ SGK được áp dụng thống nhất trên toàn quốc do một đơn vị duy nhất được phép xuất bản là NXBGD. Nhìn sang Singapore, một quốc gia có nền giáo dục phổ thông phát triển nhất không chỉ trong khu vực Đông Nam Á mà còn trong thế giới của các quốc gia phát triển, thì riêng bậc tiểu học (từ lớp 1 đến lớp 6), số lượng SGK được phép sử dụng làm giáo trình như sau: 126 bộ sách Toán (trung bình mỗi lớp có 21 bộ), 38 bộ sách Tiếng Anh (trung bình mỗi lớp có 6-7 bộ) và 81 bộ sách Khoa học (trung bình mỗi lớp có 12-13 bộ).4 Số lượng SGK kể trên được thực hiện bởi 19 nhà xuất bản. Ở Hàn Quốc, SGK được tư nhân tham gia xuất bản từ năm 1995.
Thành phần này chia làm hai nhóm. Nhóm thứ 1 Nguyễn Văn Ngữ (2010) [15] 2 Hồng Hạnh (2010) [6] 3 Quốc hội (2000) [8] 4 Giáp Văn Dương (2011) [4] 123doc 2 nhất do Bộ Giáo dục Hàn Quốc biên soạn, gồm SGK cho bậc mầm non và tiểu học. Nhóm thứ hai là SGK từ lớp 7 đến lớp 12, do các nhà xuất bản tư nhân tổ chức biên soạn nhưng chỉ được xuất bản sau khi bộ chủ quản thẩm định theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt. Nhờ vậy, ở bậc “THCS có 32 bộ sách Toán, 9 bộ sách Khoa học và 10 bộ sách môn Xã hội.
Ở bậc THPT có 8 bộ sách Hóa học, 9 bộ sách Vật lý, 6 bộ sách môn Lịch sử Hàn Quốc hiện đại, 8 bộ sách môn Sinh học, 8 bộ sách môn Xã hội, 11 bộ sách Khoa học…”.5 Đầu mối tổ chức sản xuất và cung ứng SGK là NXBGD được thành lập năm 1957 với khẩu hiệu “lấy nhiệm vụ chính trị là mục tiêu, kinh doanh là phương tiện”. Năm 2003, đơn vị này chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con theo Quyết định số 102/2003/QĐ - TTg ngày 21/5/2003 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định 3961/2003/QĐ - BGD&ĐT ngày 28/7/2003. Theo Quyết định số 102/2003/QĐ - TTg, “công ty mẹ được hình thành trên cơ sở tổ chức lại cơ quan Nhà xuất bản Giáo dục, Công ty Bản đồ và Tranh ảnh giáo khoa, Chi nhánh Nhà xuất bản Giáo dục TP. Đà Nẵng và Chi nhánh Nhà xuất bản Giáo dục TP.
Hồ Chí Minh”. Từ sáu công ty con được hình thành trên cơ sở cổ phần hóa giai đoạn 2003 - 2005 theo lộ trình quy định tại điều 2 của quyết định này, hiện danh sách đơn vị thành viên công bố trên website của NXBGD lên đến con số 63 (tác giả đã loại trừ một doanh nghiệp giải thể hồi tháng 4/2013 là Công ty cổ phần In Diên Hồng). Trong số này có 26 đơn vị là công ty cổ phần sách và thiết bị trường học rải trên 26 tỉnh/thành (xem Hình 1. Một trong những chức năng quan trọng của những đơn vị này là giữ vai trò đại lý cấp I trong chuỗi phân phối SGK mới.
Tuy nhiên, 63 đơn vị thành viên vẫn chưa phải là con số cuối cùng. Còn có những công ty con khác chưa được NXBGD cập nhật trên website chính thức của mình, chẳng hạn như CTCP đầu tư tài chính giáo dục thành lập theo Quyết định số 1474/QĐ-TNCS ngày 19/12/2007, được giao quản lý tòa nhà 81 Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội với tổng diện tích mặt sàn khoảng 6. 5 Bùi Mạnh Hùng (2012) [10] 123doc 3 Hình 1.1: Mạng lưới các công ty cổ phần sách và thiết bị trường học là thành viên của NXBGD NXB GIÁO DỤC VIỆT NAM Khu vực miền Bắc Khu vực miền Trung Khu vực miền Nam Các CTCP sách và thiết bị giáo dục Sơn La Miền Bắc Bình Định Miền Trung Cần Thơ Miền Nam Nam Định Cao Bằng Quảng Ngãi Đà Nẵng Tiền Giang TP.HCM Tuyên Quang Hòa Bình Quảng Trị Thanh Hóa Bà Rịa–Vũng Tàu Cửu Long Lào Cai Hà Tây Nghệ An Bến Tre Bình Dương Hưng Yên Trà Vinh Bình Thuận Vĩnh Long Nguồn: Tác giả tổng hợp từ website của NXBGD 123doc 4 Năm học 2011 - 2012, giá bán SGK mới tăng trung bình 16,9% so với năm học trước. Giải trình với công luận, ông Nguyễn Minh Khang, Phó Tổng giám đốc NXBGD cho biết doanh thu năm 2011 của đơn vị này đạt 522 tỉ đồng, lỗ 100 tỉ đồng nhưng vì “nhiệm vụ chính trị” nên phải bù lỗ bằng những nguồn thu khác.
Thua lỗ cũng chính là lý do đơn vị này thuyết phục được Chính phủ cho phép tăng giá SGK 10% trong niên học 2008 - 2009. Tuy nhiên, dư luận có cơ sở để nghi ngờ giải trình của NXBGD. Giáo sư Phạm Tất Dong, nguyên Phó ban Tuyên giáo Trung ương, cho biết: “Từng làm quản lý giáo dục, tôi biết lợi nhuận của NXBGD là khổng lồ bởi họ độc quyền việc in SGK trên cả nước”.6 Năm 2007, Thanh tra Chính phủ (TTCP) tiến hành thanh tra NXBGD. Kết luận do Phó Tổng TTCP ký có một số điểm đáng chú ý.
Thứ nhất, trong khoảng thời gian từ 2002 đến 30/6/2006, tổng lợi nhuận của NXBGD đạt 345,8 tỉ đồng, lợi nhuận sau thuế là 236,9 tỉ đồng. Thứ hai, mức chiết khấu bình quân trên cả nước là 24% trên giá bìa, cao hơn 4% so với khu vực. Thứ ba, giá bán SGK được xây dựng từ năm 2002 trên cơ sở giá thành kế hoạch và lợi nhuận định mức theo phương án ổn định giá bán từ năm 2002 đến 2010. Sau khi kết quả thanh tra NXBGD được TTCP công bố năm 2007, Bộ GD-ĐT trả lời báo giới rằng khó thực hiện giảm giá SGK ngay trong niên học học 2007 - 2008 bởi đã “lỡ in giá bìa” vì thời điểm đó việc chuẩn bị SGK cho năm học mới cơ bản đã xong, trong khi việc tổ chức dán tem giá mới đè lên giá cũ rất nhiêu khê, phức tạp (làm thủ công) và tốn kém (chi phí in tem, dán nhãn).
Trong năm 2008, sau khi được Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng chấp thuận cho phép tăng giá bằng việc ký Công văn số 1910/VPCP- KTTH,7 Bộ GD-ĐT đã đồng ý cho NXBGD khẩn trương tổ chức in tem giá để dán đè lên giá cũ của từng cuốn SGK. Mặc dù dư luận nghi ngờ việc NXBGD có được siêu lợi nhuận nhờ vị thế độc quyền xuất bản SGK nhưng cho đến nay, theo tìm hiểu của tác giả, mới chỉ có ông Nguyễn Xuân Hãn (Đại học Quốc gia Hà Nội) ước tính doanh số của NXBGD vào năm 2001. Cách tính của ông Hãn tập trung vào năm học 2001 - 2002 được mô tả như sau:8 6 Tuệ Nguyễn (2011) [16] 7 Quý Hiên (2008) [7] 8 Nguyễn Xuân Hãn (2013) [5] 123doc 5 Ông Nguyễn Xuân Hãn dẫn số liệu từ Cục Xuất bản cho biết tổng số xuất bản phẩm trong năm 2001 là 237,76 triệu bản, mang lại tổng doanh thu 1. Số lượng xuất bản phẩm của NXBGD là 200 triệu bản.
Con số 200 triệu bản sách này được ông Nguyễn Xuân Hãn tính toán dựa vào số tiền mà NXBGD mua tem chống sách lậu là 8 tỉ đồng (40 đồng/tem theo thời giá), chiếm 84,1% tổng lượng xuất bản phẩm của cả nước.705 tỉ đồng nhân với 84,1% được 1. Ông Nguyễn Xuân Hãn kết luận con số trên là doanh số của NXBGD. Kết luận này có thể bị nghi ngờ bởi hai lý do. Thứ nhất là sự khác biệt về SGK và các loại sách khác.
Thứ hai, ngoài SGK, NXBGD còn sản xuất những sản phẩm mà học sinh không bắt buộc phải mua như sách tham khảo, trang thiết bị giảng dạy và học cụ. Tức là cách tính trên chưa bóc tách được cấu phần doanh thu SGK hằng năm của NXBGD, từ đó chưa tính được lợi nhuận mà đơn vị này thu được. Ông Nguyễn Kiểm, khi còn giữ cương vị Cục phó Cục Xuất bản, từng nói: “Không nơi nào trên thế giới, xuất bản sách giáo khoa chỉ là “đặc quyền” của một nhà xuất bản (NXB). Sách giáo khoa tài sản quốc gia, không phải do Bộ GD&ĐT giữ bản quyền.
Khi đã là tài sản quốc gia thì không NXB nào được “độc chiếm””.9 Theo Cục Xuất bản, năm 2011, toàn ngành đã xuất bản 27.542 đầu sách, tương đương 293,723 triệu bản sách, tăng 7% về đầu sách và 6% số lượng bản sách so với năm 2010. Ông Nguyễn Trọng Nhã,10 Phó Giám đốc Công ty Cổ phần (CTCP) sách và thiết bị trường học Quảng Ninh, cho biết NXBGD vẫn chiếm khoảng 70% - 80% số lượng bản sách lưu hành. CTCP sách và thiết bị trường học Quảng Ninh tiền thân là một phòng trực thuộc Sở GD - ĐT Quảng Ninh, tách ra thành doanh nghiệp nhà nước từ năm 1992, rồi chuyển đổi thành công ty cổ phần, trong đó Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước đại diện phần vốn Nhà nước với tỷ lệ cổ phần chi phối. Hệ thống phân phối của SGK khá khép kín.
Tính đến tháng 9/2011, CTCP sách và thiết bị trường học Quảng Ninh vẫn là nhà phân phối SGK mới duy nhất tại Quảng Ninh với bốn nhà sách đặt tại TP.