Mở đầu Phần 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về sử dụng vốn vay của hội viên Hội phụ nữ Phần 3. Phương pháp nghiên cứu Phần 4. Kết quả nghiên cứu Phần 5.
Kết luận và kiến nghị 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA HỘI VIÊN HỘI PHỤ NỮ 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN VAY CỦA HỘI VIÊN HỘI PHỤ NỮ 2. Các khái niệm có liên quan 2.
Khái niệm về hội viên Hội phụ nữ Theo Điều lệ Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (2017): Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (Hội) là tổ chức chính trị- xã hội trong hệ thống chính trị, có tư cách pháp nhân, đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp phụ nữ Việt Nam; phấn đàu vì sự phát triển của phụ nữ và bình đẳng giới; - Điều lệ Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (2017) nêu rõ chức năng của Hội: "Đại diện chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp phụ nữ, tham gia xây dựng Đảng, tham gia quản lý Nhà nước; Đoàn kết, vận động phụ nữ thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vận động xã hội thực hiện bình đẳng giới". - Điều lệ Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (2017) nêu rõ nhiệm vụ của Hội: Tuyên truyền, giáo dục phụ nữ về chính trị, tư tưởng, lý tưởng cách mạng, phẩm chất đạo đức, lối sống; thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, phát triển kinh tế- xã hội và bảo vệ Tổ quốc; Vận động, hỗ trợ phụ nữ nâng cao năng lực, trình độ, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần và xây dựng gia đình hạnh phúc; Tham mưu đề xuất, tham gia xây dựng, phản biện xã hội và giám sát việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ, gia đình, trẻ em và bình đẳng giới; Xây dựng, phát triển tổ chức Hội vững mạnh; Đoàn kết, hợp tác với phụ nữ các nước, các tổ chức cá nhân tiến bộ trên thế giới vì bình đẳng, phát triển và hòa bình. - Điều Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (2017) nêu rõ hệ thống tổ chức của Hội gồm 4 cấp: 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Cấp Trung ương; + Cấp tỉnh (bao gồm Hội Liên hiệp Phụ nữ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và tương đương); + Cấp huyện (bao gồm Hội Liên hiệp Phụ nữ các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương); + Cấp cơ sở (bao gồm Hội Liên hiệp Phụ nữ các xã, phường, thị trấn và tương đương); - Tại Điều 3, Điều lệ Hội LHPN Việt Nam (2017) quy định: Phụ nữ Việt Nam từ 18 tuổi trở lên; không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, nơi làm việc, nơi cư trú; tán thành Điều lệ Hội và tự nguyện tham gia tổ chức Hội thì được công nhận là hội viên. Khái niệm vốn Vốn có thể được định nghĩa theo nghĩa hẹp và cũng có thể định nghĩa theo nghĩa rộng.
Theo nghĩa chung, vốn là giá trị của toàn bộ đầu vào bao gồm những tài sản, vật phẩm, các nguồn tài chính (vốn bằng tiền trái phiếu, cổ phiếu) dùng trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp (Đỗ Kim Chung, 2009). Vốn là khối lượng tiền tệ nào đó được ném vào lưu thông nhằm mục đích kiếm lời, tiền đó được sử dụng muôn màu muôn vẻ. Nhưng nói cho cùng thì vốn là để mua sắm tư liệu sản xuất và trả công cho người lao động nhằm hoàn thành công việc sản xuất hay dịch vụ nào đó với mục đích là thu lại số tiền lớn hơn số tiền ban đầu. Theo quan điểm của Mác thì: Vốn (tư bản) không phải là vật, là tư liệu sản xuất, không phải là phạm trù vĩnh viễn.
Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động làm thuê. Để tiến hành sản xuất, nhà tư bản ứng tiền ra mua tư liệu sản xuất và sức lao động, nghĩa là tạo ra các yếu tố của quá trình sản xuất. Các yếu tố này có vai trò khác nhau trong việc tạo ra giá trị thặng dư. Mác chia tư bản ra làm tư bản bất biến và tư bản khả biến.
Tư bản bất biến là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức tư liệu sản xuất (máy móc, thiết bị, nhà xưởng,…) mà giá trị của nó được chuyển nguyên vẹn vào sản phẩm. Tư bản khả biến là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức lao động, trong đó quá trình sản xuất thay đổi về lượng, tăng lên do sức lao động của hàng hóa tăng. Theo David Begg, Stenley Ficher, Rudiger Darubused trong cuốn (Kinh tế học) thì: Vốn hiện vật là giá trị của hàng hóa đã sản xuất được sử dụng để tạo ra 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hàng hóa và dịch vụ khác. Bản thân vốn là một hàng hóa nhưng được tiếp tục sử dụng vào sản xuất kinh doanh tiếp theo.
Như vậy, vốn là một yếu tố số một của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Có vốn thì mới có thể mở rộng sản xuất kinh doanh, mua sắm các trang thiết bị hay tiến hành các phương án, kế hoạch sản xuất khác trong lương lai. Vậy yêu cầu đặt ra không chỉ đối với các doanh nghiệp mà ngay đối với các hộ sản xuất cũng hết sức quan trọng để làm sao có thể quản lý và sử dụng vốn một cách hiệu quả nhằm bảo toàn và phát triển vốn, đảm cho hoạt động sản xuất ngày càng phát triển một cách bền vững. Khái niệm tín dụng, tín chấp, vốn vay Cũng giống như vốn, tín dụng cũng có nhiều khái niệm và quan niệm khác nhau được đưa ra: a.
Khái niệm tín dụng Tín dụng là một phạm trù kinh tế học và nó cũng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa, tín dụng ra đời và tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế xã hội. Quan hệ tín dụng được phát sinh ngay từ thời kỳ công xã nguyên thủy bắt đầu tan rã, khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện, đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa. Thời kỳ đó tín dụng được thực hiện dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật – hàng hóa. Theo từ điển thuật ngữ tài chính: “Tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại trong các phương thức sản xuất hàng hóa khác nhau và được biểu hiện như sự vay mượn trong thời điểm nào đó” (Viết Thị Quỳnh, 2016, Luận văn tốt nghiệp).
Mác cho rằng: “Tín dụng là quá trình chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu đến người sử dụng, sau một thời gian nhất định thu hồi một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu” Viết Thị Quỳnh, 2016, Luận văn tốt nghiệp). Nói chung, bản chất của mối quan hệ tín dụng bao gồm 2 mặt cơ bản là quan hệ cho vay và quan hệ hoàn trả được thể hiện như sau: (1) Người vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định. Giá trị này có thể dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật, hàng hóa, máy móc, thiết bị… (2) Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một khoảng thời gian nhất định, khi hết hết thời gian sử dụng theo thỏa thuận người đi vay phải trả cho người cho vay. Thông thường, giá trị hoàn trả lớn hơn giá trị cho vay, nói cách khác người đi vay phải trả thêm một khoản lợi tức.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái niệm tín chấp Theo từ điển Tiếng Việt, “tín chấp là vay tiền bằng sự tín nhiệm, không thế chấp tài sản”. Như vậy, bên cạnh hợp đồng vay tiền bằng tín chấp ngân hàng của cá nhân luôn là một sự bảo đảm bằng uy tín, sự tín nhiệm tổ chức Hội phụ nữ (thông qua việc ký kết các văn bản, Nghị quyết liên tịch giữa tổ chức Hội với các Ngân hàng). Theo Nghị định 163 (2006) quy định “Tín chấp là việc tổ chức chính trị - xã hội tại cơ sở bằng uy tín của mình bảo đảm cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền tại tổ chức tín dụng để sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ”.
Khái niệm vốn vay Vốn vay (debt capital) là số tiền mà một công ty vay từ các nguồn bên ngoài với thời hạn nhất định thông qua việc phát hành các trái phiếu có lãi suất cố định v. Được hiểu là vốn hình thành từ việc đi vay, đến thời hạn nhất định phải hoàn trả cho người cho vay (Đỗ Kim Chung, 2014).4 Khái niệm kết quả và hiệu quả về sử dụng vốn vay a. Kết quả sử dụng vốn vay Kết quả sử dụng vốn vay là việc các hộ vay vốn sử dụng lượng vốn được vay vào quá trình sản xuất kinh doanh mang lại được những thành tựu gì, đạt được những kết quả tích cực hay tiêu cực. Kết quả sử dụng vốn vay được thể hiện thông qua việc tăng năng suất, sản lượng, tăng thu nhập của các hộ nông dân sau khi được vay vốn.
Kết qủa sử dụng vốn cho ngành trồng trọt là việc tăng lên về diện tích, năng suất và sản lượng của ngành trồng trọt tăng lên sau khi đầu tư cho trồng trọt; kết quả sử dụng vốn của ngành chăn nuôi đó là sự tăng lên về số lượng giống vật nuôi, đầu tư thêm cho thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y làm tăng năng suất và sản lượng cho ngành chăn nuôi (Viết Thị Quỳnh, 2016, Luận văn tốt nghiệp). Kết quả sử dụng vốn vay còn được thể hiện thông qua lợi nhuận của các hộ vay sau khi đưa lượng vốn vay vào các mục đích sử dụng khác nhau để sản xuất, kinh doanh. Lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh, là chỉ tiêu chất lượng để đánh giá hiệu quả kinh tế của các hộ và là nguồn tích lũy cơ bản để mở rộng tái sản xuất và đảm bảo cho tình hình tài chính của hộ được bền vững. Lợi nhuận của hộ là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu với chi phí phải bỏ ra để đạt được doanh thu đó từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh của hộ Viết Thị Quỳnh, 2016, Luận văn tốt nghiệp).
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.