CHƯƠNG 1 VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1. TỔNG QUAN VỀ VỐN TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về vốn trong doanh nghiệp Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh trên thị trường nhằm tăng giá trị của chủ sở hữu. Tại Việt Nam, theo Luật Doanh nghiệp 2005: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.
Để doanh nghiệp có thể hoạt động sản xuất kinh doanh được thì điều kiện tiên quyết là phải có vốn. Vậy vốn là gì? Khái niệm về vốn rất nhiều và cũng rất khác nhau, tuỳ theo từng thời kỳ và giai đoạn, mỗi nhà kinh tế lại đưa ra những khái niệm khác nhau: - Theo K. Marx: “Vốn là tư bản, là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất.” - Theo David Begg trong cuốn “Kinh tế học”: Vốn là phạm trù bao gồm vốn hiện vật và vốn tài chính doanh nghiệp. Vốn hiện vật là dự trữ hàng hoá để sản xuất ra các hàng hoá khác.
Vốn tài chính doanh nghiệp là tiền và các giấy tờ có giá của doanh nghiệp. Samuelson: “Vốn là những hàng hoá được sản xuất ra để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (vốn, lao động, đất đai)” Đó là những khái niệm kinh điển về vốn trong các học thuyết kinh tế. Các quan điểm này tuy đã thể hiện được vai trò và tác dụng của vốn trong những điều kiện lịch sử cụ thể, phù hợp với yêu cầu, mục đích nghiên cứu nhưng vẫn Chuyên đề tốt nghiệp Page 7 SV thực hiện :Trần Chí Nhân GVHD : TS. Đoàn Phương Thảo hạn chế về sự thống nhất giữa vốn và tài sản của doanh nghiệp.
Hiện nay, có một số khái niệm khác, cụ thể và rõ ràng hơn: - Vốn là tiền để doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh hay có thể coi vốn là số tiền ứng trước cho kinh doanh. - Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ các loại tài sản của doanh nghiệp tồn tại dưới hình thức khác nhau được sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh để sinh lời cho doanh nghiệp. Như vậy vốn được xem như đồng nhất với tài sản phục vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Vốn là khoản tích luỹ dưới dạng tiền tệ, là phần thu nhập có nhưng chưa được dùng.
- Vốn là một trong những điều kiện vật chất cơ bản kết hợp sức lao động và các yếu tố khác làm đầu vào cho quá trình sản xuất kinh doanh. Vốn tham gia vào toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ chu kì sản xuất đầu tiên đến những chu kì sản xuất cuối cùng trong suốt thời gian tồn tạị của doanh nghiệp. Tóm lại, bản chất của vốn chính là một yếu tố đầu vào quan trọng nhất, được sử dụng để đầu tư các trang thiết bị, nhà xưởng, máy móc… cho doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Không có vốn thì doanh nghiệp không thể hoạt động được.
Tuy nhiên không nên nhầm lẫn giữa khái niệm vốn và tiền. Vốn là tiền, nhưng tiền chưa hẳn đã là vốn, tiền chỉ trở thành vốn khi nó tham gia vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn của doanh nghiệp thường xuyên vận động và chuyển từ hình thái ban đầu là tiền sang hình thái hiện vật và cuối cùng lại quay trở về hình thái ban đầu là tiền. Sự vận động như vậy được coi là sự tuần hoàn của vốn.
Quá trình hoạt động sản xuất của doanh nghiệp diễn ra không ngừng. Do đó, sự tuần hoàn của vốn cũng diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại có tính chất chu kì tạo thành dòng chu chuyển. Tóm lại, quan điểm về vốn là rất nhiều, nhưng có thể khái quát lại để đưa ra một khái niệm đơn giản nhất: “Vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của Chuyên đề tốt nghiệp Page 8 SV thực hiện :Trần Chí Nhân GVHD : TS. Đoàn Phương Thảo toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời”.
Phân loại vốn trong doanh nghiệp Để sử dụng vốn một cách hiệu quả, phân loại vốn là yêu cầu cơ bản nhất. Tuỳ theo mục đích của nhà quản lý mà vốn được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau. Dưới đây là những cách phân loại đơn giản theo 4 tiêu thức: Theo nguồn hình thành, theo phương thức chu chuyển, theo thời gian sử dụng vốn, theo phạm vi sử dụng vốn. Phân loại vốn theo nguồn hình thành Căn cứ theo nguồn hình thành, vốn được phân thành hai loại: Vốn chủ sở hữu và vốn vay.
Nhờ cách phân loại này, nhà quản lý có thể tìm cách cân đối vốn và lựa chọn cơ cấu vốn tối ưu nhất cho doanh nghiệp. * Vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu là vốn của các chủ sở hữu, các nhà đầu tư góp vốn hoặc hình thành từ kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp không có nghĩa vụ phải thanh toán cho nguồn vốn này. Vốn chủ sở hữu được hình thành từ ba nguồn chủ yếu: - Vốn góp ban đầu: Đây chính là nguồn vốn chủ sở hữu chủ yếu.
Theo Luật doanh nghiệp, muốn thành lập một doanh nghiệp thì ban đầu cần phải có một số vốn nhất định của chủ sở hữu để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, số vốn này được ghi vào vốn điều lệ của doanh nghiệp và phải lớn hơn hoặc bằng mức vốn pháp định (là mức vốn tối thiểu để doanh nghiệp được thành lập do Nhà nước quy định). Vốn góp ban đầu là do các chủ sở hữu, các nhà đầu tư đóng góp khi doanh nghiệp mới thành lập và đóng góp thêm trong quá trình sản xuất kinh doanh. Với doanh nghiệp nhà nước, nguồn vốn này là do Ngân sách nhà nước cấp hoặc đầu tư. Với công ty liên doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh vốn này là do các thành viên góp vốn.
Đối với công ty cổ phần, là do các cổ đông đóng góp. Với doanh nghiệp tư nhân thì là do chủ sở hữu doanh nghiệp đóng góp. Chuyên đề tốt nghiệp Page 9 SV thực hiện :Trần Chí Nhân GVHD : TS. Đoàn Phương Thảo - Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia: Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ có những điều kiện thoụân lợi để tăng trưởng nguồn vốn.
Lợi nhuận sau thuế một phần sẽ được giữ lại để tái đầu tư, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là một phương thức tạo nguồn tài chính quan trọng và khá hấp dẫn. - Nguồn từ phát hành cổ phiếu: Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể tăng vốn chủ sở hữu bằng cách phát hành thêm cổ phiếu mới. Đây là một kênh huy động vốn dài hạn rất quan trọng cho doanh nghiệp thông qua thị trường chứng khoán.
Doanh nghiệp có thể phát hành hai loại cổ phiếu cơ bản: Cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi. + Cổ phiếu thường: Là loại cổ phiếu thông dụng nhất, được phát hành nhằm huy động vốn cho doanh nghiệp. Mỗi cổ phiếu đại diện cho một cổ phần trong doanh nghiệp, người nắm giữ cổ phiếu thường gọi là cổ đông của doanh nghiệp. + Cổ phiếu ưu đãi: Chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số cổ phiếu được phát hành.
Người nắm giữ cổ phiếu này được trả cổ tức đều đặn cố định, không phụ thuộc vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và được quyền thanh toán trước các cổ đông thường. - Nguồn vốn chủ sở hữu khác: Nguồn vốn này bao gồm các khoản thặng dư vốn cổ phần, khoản chênh lệch do đánh giá lại tài sản, do đánh giá chênh lệch tỷ giá ngoại tệ, do được ngân sách nhà nước cấp kinh phí, do các đơn vị phụ thuộc nộp kinh phí quản lý và vốn chuyên dùng xây dựng cơ bản… Như vậy, vốn chủ sở hữu mang tính dài hạn, không phải hoàn trả và mang tính an toàn rất cao đối với doanh nghiệp nhưng lại rủi ro đối với các nhà đầu tư. Do vậy mà chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu thường cao hơn chi phí của vốn vay. Phát hành cổ phiếu để huy động vốn cho doanh nghiệp được gọi là hoạt động tài trợ dài hạn của doanh nghiệp.
* Vốn vay: Chuyên đề tốt nghiệp Page 10 SV thực hiện :Trần Chí Nhân GVHD : TS. Đoàn Phương Thảo Vốn chủ sở hữu đóng vài trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhưng nếu chỉ có vốn chủ sở hữu thì không đủ. Để đáp ứng nhu cầu về vốn, doanh nghiệp còn có thể huy động vốn dưới nhiều nhiều hình thức khác nhau từ các nguồn bên ngoài, nguồn vốn này gọi là vốn vay. Vốn vay là các khoản vốn do doanh nghiệp huy động trên cơ sở chế độ chính sách của nhà nước như vay ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác, các khoản tín dụng thương mại… Đối với khoản vốn này, doanh nghiệp chỉ có quyền sử dụng trong phạm vi những ràng buộc nhất định.
Doanh nghiệp có nghĩa vụ phải hoàn trả trong một thời gian nhất định. Chi phí vốn là lãi phải trả cho các khoản nợ vay. Chi phí nợ vay được tính vào chi phí hợp lý hợp lệ nên không phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Như vậy so với vốn chủ sở hữu, vốn vay tạo ra một khoản tiết kiệm nhờ thuế cho doanh nghiệp, ảnh hưởng tới việc hình thành cơ cấu vốn tối ưu với mục đích tối đa hoá giá trị của các chủ sở hữu.
Đây được gọi là lá chắn thuế của nợ vay. Nguồn vốn này được hình thành dưới nhiều hình thức khác nhau: Vay nợ, liên doanh liên kết, tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, đi thuê và các hình thức sở hữu khác. - Nguồn vốn tín dụng ngân hàng: Đây là nguồn vốn phổ biến nhất, là một trong những nguồn quan trọng nhất đối với doanh nghiệp. Đó có thể là vốn vay ngắn, trung, dài hạn tuỳ theo nhu cầu của doanh nghiệp và sự thoả thuận giữa doanh nghiệp với ngân hàng.
Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp thường vay ngân hàng để đảm bảo nguồn tài trợ chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp. Tuy nguồn vốn này có nhiều ưu điểm nhưng cũng có những hạn chế nhất định.